980–1005
1.1. Tiền Lê
Lê Hoàn - Lê Đại Hành (941 - 1005)
Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ; sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, giữ vai trò Nhiếp chính, thực tế nắm quyền triều đình và quân đội; lên ngôi sau khi Đinh Phế Đế còn nhỏ. Lê Hoàn, sử gọi phổ biến là Lê Đại Hành, sinh năm 941. Một số nguồn chính thống hiện nay, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ghi ngày sinh là 15 tháng 7 năm Tân Sửu, quy đổi 10/08/941; tuy nhiên quê quán của ông lại là vấn đề sử liệu chưa hoàn toàn thống nhất. Đại Việt sử lược chép ông người Trường Châu; Đại Việt sử ký toàn thư chép người Ái Châu; truyền thống tại Thanh Hóa xác định quê tại vùng Trung Lập/Xuân Lập, Thọ Xuân, trong khi một số nguồn khác gắn ông với Thanh Liêm, Hà Nam. Vì vậy phần quê quán nên phản ánh cả Hoa Lư – trung tâm quyền lực, còn quê sinh chỉ nên ghi kèm lưu ý dị bản. Cha ông được các nguồn sau ghi là Lê Mịch, mẹ họ Đặng, thường được gọi là Đặng Thị Sen; cả hai mất sớm. Sử cũ còn kể mẹ ông mộng thấy hoa sen khi mang thai và người cha nuôi nhận thấy ông có tướng mạo khác thường; đây là lớp truyền thuyết tiểu sử phổ biến của sử học trung đại, không nên coi ngang với các dữ kiện hành chính được xác nhận chắc chắn. (bvhttdl.gov.vn) Khi trưởng thành, Lê Hoàn theo Nam Việt Vương Đinh Liễn, tham gia lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh trong quá trình dẹp các sứ quân. Đại Việt sử ký toàn thư ghi Đinh Bộ Lĩnh thấy ông “trí dũng” nên giao cho cai quản quân sĩ. Sau khi nhà Đinh thành lập, đến năm 971, khi Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định phẩm cấp văn võ, Lê Hoàn được phong Thập đạo tướng quân, đứng đầu hệ thống quân sự của triều đình. Đây là vị trí then chốt giải thích vì sao sau biến cố năm 979 ông nhanh chóng trở thành nhân vật nắm thực quyền. (vnexpress.net) Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại. Đinh Toàn, còn rất nhỏ, lên ngôi; Lê Hoàn được giao phụ chính, xưng Phó vương, nắm đại quyền quân sự và triều chính. Việc này gây phản ứng từ một số đại thần nhà Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp; các lực lượng chống Lê Hoàn bị đánh bại. Đúng lúc đó, nhà Tống nhận thấy Đại Cồ Việt đang khủng hoảng kế vị và chuẩn bị xâm lược. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Toàn thư ghi rằng khi tin quân Tống sắp kéo sang đến Hoa Lư, Dương Thái hậu giao Lê Hoàn tuyển quân chống giặc. Tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh cho rằng vua nhỏ không đủ khả năng điều hành chiến tranh, đề nghị tôn Lê Hoàn làm vua. Quân sĩ hô vạn tuế; Dương Thái hậu cho khoác long bào lên Lê Hoàn. Sự kiện xảy ra vào tháng 7 năm Canh Thìn 980. (scov.gov.vn) Việc Lê Hoàn lên ngôi mở đầu nhà Tiền Lê, nhưng cũng trở thành một vấn đề được các sử gia hậu thế tranh luận. Một mặt, việc thay nhà Đinh bằng nhà Lê là sự chuyển ngôi ngoài dòng chính thống của Đinh Toàn; mặt khác, phần lớn sử gia thừa nhận hoàn cảnh nguy cơ xâm lược Tống rất cấp bách, trong khi Lê Hoàn là tổng chỉ huy quân đội và là người có khả năng tổ chức kháng chiến. Các đánh giá hiện đại vì vậy thường đặt sự kiện trong cả hai chiều: khủng hoảng chính danh triều đại và nhu cầu cấp thiết bảo vệ quốc gia. Sau khi lên ngôi, ông tiếp tục đóng đô tại Hoa Lư, giữ quốc hiệu Đại Cồ Việt và dùng niên hiệu Thiên Phúc. Niên hiệu này vốn đã được Đinh Toàn sử dụng trong năm 980; Lê Hoàn tiếp tục dùng đến năm 988, sau đó đổi sang Hưng Thống (989–993) và Ứng Thiên (994–1005). (nghiencuulichsu.com) Thử thách lớn nhất ngay sau khi lên ngôi là cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Nhà Tống tổ chức cả quân bộ và quân thủy; các tướng như Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng tham gia. Lê Hoàn trực tiếp tổ chức hệ thống phòng thủ từ vùng Bạch Đằng – Kinh Thầy – Lục Đầu – Chi Lăng/Tây Kết. Sử liệu về diễn biến chi tiết có chỗ khác nhau giữa nguồn Việt và nguồn Tống, nên không nên giản lược toàn bộ cuộc chiến thành một “trận Bạch Đằng 981” giống mô hình năm 938. Các nghiên cứu quân sự hiện đại dựa trên Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy quân Đại Cồ Việt vừa ngăn chặn các cánh quân Tống, vừa dùng mưu trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo; Hầu Nhân Bảo bị giết, các đạo quân còn lại bị đánh bại hoặc rút chạy; Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Đến mùa xuân năm 981, cuộc xâm lược về cơ bản thất bại. Đây là chiến công quyết định củng cố quyền lực của triều Tiền Lê và chứng minh nhà nước Đại Cồ Việt đủ khả năng tự bảo vệ sau biến động nhà Đinh. (tulieuvankien.dangcongsan.vn) Sau chiến thắng, Lê Hoàn chuyển nhanh sang bình thường hóa quan hệ với nhà Tống. Đây là một đặc điểm quan trọng trong chính sách đối ngoại của ông: có thể chiến đấu quyết liệt khi chủ quyền bị đe dọa nhưng sau đó chủ động thiết lập quan hệ bang giao để giảm nguy cơ chiến tranh lâu dài. Nhà Tống dần công nhận địa vị của Lê Hoàn, phong các tước hiệu trong hệ thống ngoại giao Trung Hoa. Năm 986–987, sứ Tống Lý Giác sang Đại Cồ Việt; năm 990, Tống Cảo được cử sang. Những giai thoại ngoại giao nổi tiếng về việc Lê Hoàn không quỳ khi nhận chiếu, lấy cớ đau chân, hoặc trực tiếp ra đón sứ bằng các nghi thức thể hiện uy thế đều phản ánh ý thức giữ thể diện quốc gia, nhưng từng chi tiết cần đối chiếu riêng với sử liệu gốc. Sư Khuông Việt và Đỗ Pháp Thuận được triều đình sử dụng trong hoạt động tiếp sứ, cho thấy tầng lớp tăng sĩ và trí thức Phật giáo giữ vai trò đáng kể trong ngoại giao đầu thời tự chủ. (giaoan.com.vn) Phía nam, quan hệ với Champa trở nên căng thẳng khi sứ Đại Cồ Việt là Từ Mục và Ngô Tử Canh bị phía Champa bắt giữ. Năm 982, Lê Hoàn tự làm tướng đem quân đánh Champa. Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục đều chép chiến dịch này; vua Champa, thường được sử Việt phiên âm Bê Mi Thuế, tử trận, kinh đô bị đánh phá và quân Đại Cồ Việt thu được nhiều chiến lợi phẩm. Cuộc hành binh kéo dài khoảng một năm. Về sau quan hệ với Champa vẫn không hoàn toàn ổn định, nhưng chiến dịch 982 xác lập ưu thế quân sự đáng kể của Đại Cồ Việt ở phía nam. (tulieuvankien.dangcongsan.vn) Chính chiến dịch phương nam cũng dẫn đến một đóng góp lớn về giao thông thủy. Toàn thư chép khi đi đánh Champa, đường núi vùng Đồng Cổ – Bà Hòa hiểm trở, còn đường biển khó đi; Lê Hoàn cho đào kênh, đến năm 983 hoàn thành, giúp thuyền bè đi lại thuận tiện. Các nghiên cứu hiện đại xác định đây là một trong những công trình mở đầu hệ thống kênh đào nối vùng Thanh Hóa với Nghệ An. Đến năm 1003, ông tiếp tục cho vét sông Đa Cái để cải thiện tuyến thủy lộ ở Hoan Châu. Vì thế hoạt động của ông không chỉ có ý nghĩa quân sự trước mắt mà còn tác động đến giao thông và liên kết kinh tế vùng Bắc Trung Bộ. (thanhnien.vn) Trong kinh tế nông nghiệp, năm 987, Đại Việt sử ký toàn thư ghi Lê Hoàn “bắt đầu cày ruộng tịch điền” tại núi Đọi và Bàn Hải. Đây là lần đầu nghi lễ tịch điền được sử Việt ghi rõ: nhà vua trực tiếp xuống ruộng cày nhằm biểu thị sự coi trọng nông nghiệp và khuyến khích sản xuất. Truyền thống này được các triều đại sau tiếp tục ở nhiều mức độ khác nhau. Nguồn chính thống tại Ninh Bình coi đây là một di sản nổi bật của thời Lê Đại Hành. (hoilienhiepphunutinh.ninhbinh.gov.vn) Về tổ chức quyền lực, Lê Hoàn kế thừa nhiều thiết chế của nhà Đinh nhưng đồng thời mở rộng cách kiểm soát địa phương thông qua việc phong các hoàng tử làm vương và phân bố họ tại những địa bàn quan trọng. Từ 989 đến 995, ông lần lượt phong vương cho nhiều con: Kình Thiên Đại Vương, Đông Thành Vương, Nam Phong Vương, Ngự Man Vương, Ngự Bắc Vương, Khai Minh Vương, Định Phiên/Phiên Định Vương, Phó Vương, Trung Quốc Vương, Nam Quốc Vương, Hành Quân Vương và một con nuôi làm Phù Đái Vương. Việc phân phong này có thể được hiểu như một phương thức đưa thành viên hoàng tộc ra kiểm soát những vùng chiến lược; tuy nhiên, nó cũng tạo ra nhiều trung tâm quyền lực hoàng tử, trở thành một nguyên nhân của cuộc tranh ngôi nghiêm trọng sau khi Lê Hoàn mất. (nghiencuulichsu.com) Năm 982, Lê Hoàn lập Dương thị – Dương Vân Nga, nguyên Hoàng thái hậu nhà Đinh, làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu. Việc một hoàng hậu của nhà Đinh trở thành hoàng hậu của vua sáng lập nhà Tiền Lê gây tranh luận mạnh trong các sử gia Nho giáo hậu thế; Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ phê phán về mặt lễ giáo và chính thống, trong khi cách đánh giá hiện đại thường chú ý nhiều hơn đến bối cảnh chuyển tiếp quyền lực năm 980 và vai trò của Dương hậu trong việc ổn định triều đình trước chiến tranh Tống. (baotanglichsu.vn) Lê Hoàn cũng liên tục tiến hành các chiến dịch dẹp các lực lượng chống đối trong nước, đặc biệt ở các vùng biên và miền núi. Chính sử ghi nhiều cuộc hành quân tới Đỗ Động Giang, Hoan Châu, Cử Long và các địa bàn khác. Những hoạt động này phản ánh một thực tế quan trọng của nhà nước cuối thế kỷ X: quyền lực trung ương đã được xác lập nhưng chưa hoàn toàn kiểm soát ổn định mọi địa phương; triều đình phải thường xuyên sử dụng quân sự để duy trì sự phục tùng của các hào trưởng và cộng đồng vùng xa. Trong một chiến dịch đánh Cử Long, cựu vua Đinh Toàn – lúc này đi cùng quân triều đình – bị trúng tên tử trận; sử chép Lê Hoàn thương xót và tiếp tục thúc quân đánh bại đối phương. Về văn hóa–tôn giáo, Phật giáo tiếp tục giữ địa vị quan trọng dưới Tiền Lê. Khuông Việt Ngô Chân Lưu tiếp tục được trọng dụng, các thiền sư và tăng sĩ tham gia cả ngoại giao lẫn chính trị. Tuy nhiên, không nên mô tả thời Lê Hoàn như một nhà nước “Phật giáo” theo nghĩa thể chế tôn giáo chi phối hoàn toàn; đây vẫn là một vương quyền quân chủ đang hình thành, sử dụng giới tăng sĩ như một nguồn trí thức và nhân lực chính trị quan trọng. Một điểm cần đặc biệt lưu ý ở cuối triều là vấn đề kế vị. Lê Hoàn có nhiều hoàng tử được phong vương nhưng không sớm thiết lập một cơ chế kế vị ổn định. Năm 1004, ông lập Nam Phong Vương Lê Long Việt làm Hoàng thái tử, trong khi các con khác, đặc biệt Lê Long Đĩnh, cũng có thế lực riêng. Mùa xuân, tháng 3 năm Ất Tỵ 1005, Lê Hoàn mất tại điện Trường Xuân. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi tháng, không ghi ngày. (tiemsach.org) Sau khi ông mất, các hoàng tử tranh ngôi trong khoảng tám tháng. Lê Long Việt cuối cùng lên ngôi nhưng chỉ ba ngày thì bị Lê Long Đĩnh cho người giết, rồi Long Đĩnh chiếm ngôi. Khủng hoảng này cho thấy chính sách phân phong rộng và việc xác định thái tử muộn là một điểm yếu lớn của cơ cấu quyền lực cuối đời Lê Hoàn. (vannghe.ninhbinh.gov.vn) Về tên gọi “Lê Đại Hành”, đây là một trường hợp đặc biệt. Toàn thư chép sau khi mất ông được gọi Đại Hành Hoàng Đế. Sử gia Lê Văn Hưu giải thích “Đại Hành” vốn là cách gọi tạm một hoàng đế mới mất trước khi đặt thụy hiệu; do triều đình sau đó không đặt một thụy hiệu khác đúng lệ nên tên gọi “Đại Hành” trở thành danh xưng lưu truyền. (tiemsach.org) Xét tổng thể, Lê Đại Hành có ba đóng góp đặc biệt nổi bật. Thứ nhất, ông duy trì nhà nước Đại Cồ Việt qua cuộc khủng hoảng kế vị năm 979–980 và đánh bại cuộc xâm lược Tống năm 981, bảo vệ nền độc lập vừa được nhà Đinh xây dựng. Thứ hai, ông kết hợp quân sự cứng rắn với ngoại giao linh hoạt, tạo ra một mô hình quan hệ với nhà Tống mà các triều sau tiếp tục kế thừa. Thứ ba, triều đại của ông có những hoạt động rõ rệt về nông nghiệp, thủy lợi, giao thông, kiểm soát địa phương và tổ chức hoàng tộc. Ngô Sĩ Liên từng đặc biệt ca ngợi tài cầm quân của ông, xem ông là người “đánh đâu được đấy” trong chiến tranh Tống và Champa. Tuy vậy, cũng cần ghi nhận các hạn chế: việc chuyển ngôi từ nhà Đinh gây tranh luận chính thống, việc phong quá nhiều hoàng tử ra các địa phương và xác định người kế vị muộn dẫn tới nội chiến hoàng tộc sau năm 1005. Do đó, Lê Đại Hành nên được nhìn như người củng cố nền quân chủ độc lập Đại Cồ Việt trong giai đoạn cực kỳ mong manh sau nhà Đinh, đồng thời là vị vua mà thành công quân sự–ngoại giao vượt trội hơn mức độ hoàn thiện của thiết chế kế vị và hành chính triều đại.
Thông tin & nguồn
- Giai đoạn
- 1.1. Tiền Lê
- Vương triều
- 1.1. Tiền Lê
- Người trị vì
- Lê Đại Hành
- Niên hiệu
- Thiên Phúc (980–988); Hưng Thống (989–993); Ứng Thiên (994–1005)
- Tên nước
- Đại Cồ Việt
- Loại sự kiện
- Quản lý nhà nước
- Địa điểm
- Hoa Lư, Đại Cồ Việt; Bạch Đằng – Lục Đầu – vùng biên phía Bắc; Thanh Hóa – Nghệ An; Champa
- Nguồn
- Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển I, Kỷ nhà Tiền Lê, bản dịch Viện KHXH Việt Nam/NXB KHXH; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục; Việt sử lược, phần Tiền Lê; Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, “Nhà Tiền Lê, kinh đô Hoa Lư (980–1009)”: https://scov.gov.vn/dat-nuoc-con-nguoi/tom-tat-bien-nien-su-vn/xii.-nha-tien-le-kinh-do-hoa-lu-29-nam-980-1009-.html ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Phát huy giá trị lịch sử... Đền thờ Lê Hoàn”: https://bvhttdl.gov.vn/phat-huy-gia-tri-lich-su-van-hoa-kien-truc-nghe-thuat-doc-dao-den-tho-le-hoan-20230428154547278.htm ; Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, bản trên Cổng Tư liệu Văn kiện ĐCSVN: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/lich-su-tu-tuong-quan-su-viet-nam-tap-1-tu-the-ky-iii-tr-cn-den-the-ky-xv-324 ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Dương Vân Nga – người hai lần làm hoàng hậu”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/15109/duong-van-nga-nguoi-hai-lan-lam-hoang-hau.html
- Trạng thái
- Đã đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
