Du lịch · Ẩm thực · Văn hoá Việt Nam
LaziVoyage
Menu

Dòng chảy lịch sử

Sử Việt qua những dấu mốc

Tra cứu các giai đoạn, nhân vật, sự kiện và nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam.

687 sự kiện · Trang 3 / 35

980–1005

1.1. Tiền Lê

Lê Hoàn - Lê Đại Hành (941 - 1005)

Thập đạo tướng quân, Điện tiền chỉ huy sứ; sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, giữ vai trò Nhiếp chính, thực tế nắm quyền triều đình và quân đội; lên ngôi sau khi Đinh Phế Đế còn nhỏ. Lê Hoàn, sử gọi phổ biến là Lê Đại Hành, sinh năm 941. Một số nguồn chính thống hiện nay, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ghi ngày sinh là 15 tháng 7 năm Tân Sửu, quy đổi 10/08/941; tuy nhiên quê quán của ông lại là vấn đề sử liệu chưa hoàn toàn thống nhất. Đại Việt sử lược chép ông người Trường Châu; Đại Việt sử ký toàn thư chép người Ái Châu; truyền thống tại Thanh Hóa xác định quê tại vùng Trung Lập/Xuân Lập, Thọ Xuân, trong khi một số nguồn khác gắn ông với Thanh Liêm, Hà Nam. Vì vậy phần quê quán nên phản ánh cả Hoa Lư – trung tâm quyền lực, còn quê sinh chỉ nên ghi kèm lưu ý dị bản. Cha ông được các nguồn sau ghi là Lê Mịch, mẹ họ Đặng, thường được gọi là Đặng Thị Sen; cả hai mất sớm. Sử cũ còn kể mẹ ông mộng thấy hoa sen khi mang thai và người cha nuôi nhận thấy ông có tướng mạo khác thường; đây là lớp truyền thuyết tiểu sử phổ biến của sử học trung đại, không nên coi ngang với các dữ kiện hành chính được xác nhận chắc chắn. (bvhttdl.gov.vn) Khi trưởng thành, Lê Hoàn theo Nam Việt Vương Đinh Liễn, tham gia lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh trong quá trình dẹp các sứ quân. Đại Việt sử ký toàn thư ghi Đinh Bộ Lĩnh thấy ông “trí dũng” nên giao cho cai quản quân sĩ. Sau khi nhà Đinh thành lập, đến năm 971, khi Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định phẩm cấp văn võ, Lê Hoàn được phong Thập đạo tướng quân, đứng đầu hệ thống quân sự của triều đình. Đây là vị trí then chốt giải thích vì sao sau biến cố năm 979 ông nhanh chóng trở thành nhân vật nắm thực quyền. (vnexpress.net) Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại. Đinh Toàn, còn rất nhỏ, lên ngôi; Lê Hoàn được giao phụ chính, xưng Phó vương, nắm đại quyền quân sự và triều chính. Việc này gây phản ứng từ một số đại thần nhà Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp; các lực lượng chống Lê Hoàn bị đánh bại. Đúng lúc đó, nhà Tống nhận thấy Đại Cồ Việt đang khủng hoảng kế vị và chuẩn bị xâm lược. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Toàn thư ghi rằng khi tin quân Tống sắp kéo sang đến Hoa Lư, Dương Thái hậu giao Lê Hoàn tuyển quân chống giặc. Tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh cho rằng vua nhỏ không đủ khả năng điều hành chiến tranh, đề nghị tôn Lê Hoàn làm vua. Quân sĩ hô vạn tuế; Dương Thái hậu cho khoác long bào lên Lê Hoàn. Sự kiện xảy ra vào tháng 7 năm Canh Thìn 980. (scov.gov.vn) Việc Lê Hoàn lên ngôi mở đầu nhà Tiền Lê, nhưng cũng trở thành một vấn đề được các sử gia hậu thế tranh luận. Một mặt, việc thay nhà Đinh bằng nhà Lê là sự chuyển ngôi ngoài dòng chính thống của Đinh Toàn; mặt khác, phần lớn sử gia thừa nhận hoàn cảnh nguy cơ xâm lược Tống rất cấp bách, trong khi Lê Hoàn là tổng chỉ huy quân đội và là người có khả năng tổ chức kháng chiến. Các đánh giá hiện đại vì vậy thường đặt sự kiện trong cả hai chiều: khủng hoảng chính danh triều đại và nhu cầu cấp thiết bảo vệ quốc gia. Sau khi lên ngôi, ông tiếp tục đóng đô tại Hoa Lư, giữ quốc hiệu Đại Cồ Việt và dùng niên hiệu Thiên Phúc. Niên hiệu này vốn đã được Đinh Toàn sử dụng trong năm 980; Lê Hoàn tiếp tục dùng đến năm 988, sau đó đổi sang Hưng Thống (989–993) và Ứng Thiên (994–1005). (nghiencuulichsu.com) Thử thách lớn nhất ngay sau khi lên ngôi là cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Nhà Tống tổ chức cả quân bộ và quân thủy; các tướng như Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng tham gia. Lê Hoàn trực tiếp tổ chức hệ thống phòng thủ từ vùng Bạch Đằng – Kinh Thầy – Lục Đầu – Chi Lăng/Tây Kết. Sử liệu về diễn biến chi tiết có chỗ khác nhau giữa nguồn Việt và nguồn Tống, nên không nên giản lược toàn bộ cuộc chiến thành một “trận Bạch Đằng 981” giống mô hình năm 938. Các nghiên cứu quân sự hiện đại dựa trên Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy quân Đại Cồ Việt vừa ngăn chặn các cánh quân Tống, vừa dùng mưu trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo; Hầu Nhân Bảo bị giết, các đạo quân còn lại bị đánh bại hoặc rút chạy; Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Đến mùa xuân năm 981, cuộc xâm lược về cơ bản thất bại. Đây là chiến công quyết định củng cố quyền lực của triều Tiền Lê và chứng minh nhà nước Đại Cồ Việt đủ khả năng tự bảo vệ sau biến động nhà Đinh. (tulieuvankien.dangcongsan.vn) Sau chiến thắng, Lê Hoàn chuyển nhanh sang bình thường hóa quan hệ với nhà Tống. Đây là một đặc điểm quan trọng trong chính sách đối ngoại của ông: có thể chiến đấu quyết liệt khi chủ quyền bị đe dọa nhưng sau đó chủ động thiết lập quan hệ bang giao để giảm nguy cơ chiến tranh lâu dài. Nhà Tống dần công nhận địa vị của Lê Hoàn, phong các tước hiệu trong hệ thống ngoại giao Trung Hoa. Năm 986–987, sứ Tống Lý Giác sang Đại Cồ Việt; năm 990, Tống Cảo được cử sang. Những giai thoại ngoại giao nổi tiếng về việc Lê Hoàn không quỳ khi nhận chiếu, lấy cớ đau chân, hoặc trực tiếp ra đón sứ bằng các nghi thức thể hiện uy thế đều phản ánh ý thức giữ thể diện quốc gia, nhưng từng chi tiết cần đối chiếu riêng với sử liệu gốc. Sư Khuông Việt và Đỗ Pháp Thuận được triều đình sử dụng trong hoạt động tiếp sứ, cho thấy tầng lớp tăng sĩ và trí thức Phật giáo giữ vai trò đáng kể trong ngoại giao đầu thời tự chủ. (giaoan.com.vn) Phía nam, quan hệ với Champa trở nên căng thẳng khi sứ Đại Cồ Việt là Từ Mục và Ngô Tử Canh bị phía Champa bắt giữ. Năm 982, Lê Hoàn tự làm tướng đem quân đánh Champa. Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục đều chép chiến dịch này; vua Champa, thường được sử Việt phiên âm Bê Mi Thuế, tử trận, kinh đô bị đánh phá và quân Đại Cồ Việt thu được nhiều chiến lợi phẩm. Cuộc hành binh kéo dài khoảng một năm. Về sau quan hệ với Champa vẫn không hoàn toàn ổn định, nhưng chiến dịch 982 xác lập ưu thế quân sự đáng kể của Đại Cồ Việt ở phía nam. (tulieuvankien.dangcongsan.vn) Chính chiến dịch phương nam cũng dẫn đến một đóng góp lớn về giao thông thủy. Toàn thư chép khi đi đánh Champa, đường núi vùng Đồng Cổ – Bà Hòa hiểm trở, còn đường biển khó đi; Lê Hoàn cho đào kênh, đến năm 983 hoàn thành, giúp thuyền bè đi lại thuận tiện. Các nghiên cứu hiện đại xác định đây là một trong những công trình mở đầu hệ thống kênh đào nối vùng Thanh Hóa với Nghệ An. Đến năm 1003, ông tiếp tục cho vét sông Đa Cái để cải thiện tuyến thủy lộ ở Hoan Châu. Vì thế hoạt động của ông không chỉ có ý nghĩa quân sự trước mắt mà còn tác động đến giao thông và liên kết kinh tế vùng Bắc Trung Bộ. (thanhnien.vn) Trong kinh tế nông nghiệp, năm 987, Đại Việt sử ký toàn thư ghi Lê Hoàn “bắt đầu cày ruộng tịch điền” tại núi Đọi và Bàn Hải. Đây là lần đầu nghi lễ tịch điền được sử Việt ghi rõ: nhà vua trực tiếp xuống ruộng cày nhằm biểu thị sự coi trọng nông nghiệp và khuyến khích sản xuất. Truyền thống này được các triều đại sau tiếp tục ở nhiều mức độ khác nhau. Nguồn chính thống tại Ninh Bình coi đây là một di sản nổi bật của thời Lê Đại Hành. (hoilienhiepphunutinh.ninhbinh.gov.vn) Về tổ chức quyền lực, Lê Hoàn kế thừa nhiều thiết chế của nhà Đinh nhưng đồng thời mở rộng cách kiểm soát địa phương thông qua việc phong các hoàng tử làm vương và phân bố họ tại những địa bàn quan trọng. Từ 989 đến 995, ông lần lượt phong vương cho nhiều con: Kình Thiên Đại Vương, Đông Thành Vương, Nam Phong Vương, Ngự Man Vương, Ngự Bắc Vương, Khai Minh Vương, Định Phiên/Phiên Định Vương, Phó Vương, Trung Quốc Vương, Nam Quốc Vương, Hành Quân Vương và một con nuôi làm Phù Đái Vương. Việc phân phong này có thể được hiểu như một phương thức đưa thành viên hoàng tộc ra kiểm soát những vùng chiến lược; tuy nhiên, nó cũng tạo ra nhiều trung tâm quyền lực hoàng tử, trở thành một nguyên nhân của cuộc tranh ngôi nghiêm trọng sau khi Lê Hoàn mất. (nghiencuulichsu.com) Năm 982, Lê Hoàn lập Dương thị – Dương Vân Nga, nguyên Hoàng thái hậu nhà Đinh, làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu. Việc một hoàng hậu của nhà Đinh trở thành hoàng hậu của vua sáng lập nhà Tiền Lê gây tranh luận mạnh trong các sử gia Nho giáo hậu thế; Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ phê phán về mặt lễ giáo và chính thống, trong khi cách đánh giá hiện đại thường chú ý nhiều hơn đến bối cảnh chuyển tiếp quyền lực năm 980 và vai trò của Dương hậu trong việc ổn định triều đình trước chiến tranh Tống. (baotanglichsu.vn) Lê Hoàn cũng liên tục tiến hành các chiến dịch dẹp các lực lượng chống đối trong nước, đặc biệt ở các vùng biên và miền núi. Chính sử ghi nhiều cuộc hành quân tới Đỗ Động Giang, Hoan Châu, Cử Long và các địa bàn khác. Những hoạt động này phản ánh một thực tế quan trọng của nhà nước cuối thế kỷ X: quyền lực trung ương đã được xác lập nhưng chưa hoàn toàn kiểm soát ổn định mọi địa phương; triều đình phải thường xuyên sử dụng quân sự để duy trì sự phục tùng của các hào trưởng và cộng đồng vùng xa. Trong một chiến dịch đánh Cử Long, cựu vua Đinh Toàn – lúc này đi cùng quân triều đình – bị trúng tên tử trận; sử chép Lê Hoàn thương xót và tiếp tục thúc quân đánh bại đối phương. Về văn hóa–tôn giáo, Phật giáo tiếp tục giữ địa vị quan trọng dưới Tiền Lê. Khuông Việt Ngô Chân Lưu tiếp tục được trọng dụng, các thiền sư và tăng sĩ tham gia cả ngoại giao lẫn chính trị. Tuy nhiên, không nên mô tả thời Lê Hoàn như một nhà nước “Phật giáo” theo nghĩa thể chế tôn giáo chi phối hoàn toàn; đây vẫn là một vương quyền quân chủ đang hình thành, sử dụng giới tăng sĩ như một nguồn trí thức và nhân lực chính trị quan trọng. Một điểm cần đặc biệt lưu ý ở cuối triều là vấn đề kế vị. Lê Hoàn có nhiều hoàng tử được phong vương nhưng không sớm thiết lập một cơ chế kế vị ổn định. Năm 1004, ông lập Nam Phong Vương Lê Long Việt làm Hoàng thái tử, trong khi các con khác, đặc biệt Lê Long Đĩnh, cũng có thế lực riêng. Mùa xuân, tháng 3 năm Ất Tỵ 1005, Lê Hoàn mất tại điện Trường Xuân. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi tháng, không ghi ngày. (tiemsach.org) Sau khi ông mất, các hoàng tử tranh ngôi trong khoảng tám tháng. Lê Long Việt cuối cùng lên ngôi nhưng chỉ ba ngày thì bị Lê Long Đĩnh cho người giết, rồi Long Đĩnh chiếm ngôi. Khủng hoảng này cho thấy chính sách phân phong rộng và việc xác định thái tử muộn là một điểm yếu lớn của cơ cấu quyền lực cuối đời Lê Hoàn. (vannghe.ninhbinh.gov.vn) Về tên gọi “Lê Đại Hành”, đây là một trường hợp đặc biệt. Toàn thư chép sau khi mất ông được gọi Đại Hành Hoàng Đế. Sử gia Lê Văn Hưu giải thích “Đại Hành” vốn là cách gọi tạm một hoàng đế mới mất trước khi đặt thụy hiệu; do triều đình sau đó không đặt một thụy hiệu khác đúng lệ nên tên gọi “Đại Hành” trở thành danh xưng lưu truyền. (tiemsach.org) Xét tổng thể, Lê Đại Hành có ba đóng góp đặc biệt nổi bật. Thứ nhất, ông duy trì nhà nước Đại Cồ Việt qua cuộc khủng hoảng kế vị năm 979–980 và đánh bại cuộc xâm lược Tống năm 981, bảo vệ nền độc lập vừa được nhà Đinh xây dựng. Thứ hai, ông kết hợp quân sự cứng rắn với ngoại giao linh hoạt, tạo ra một mô hình quan hệ với nhà Tống mà các triều sau tiếp tục kế thừa. Thứ ba, triều đại của ông có những hoạt động rõ rệt về nông nghiệp, thủy lợi, giao thông, kiểm soát địa phương và tổ chức hoàng tộc. Ngô Sĩ Liên từng đặc biệt ca ngợi tài cầm quân của ông, xem ông là người “đánh đâu được đấy” trong chiến tranh Tống và Champa. Tuy vậy, cũng cần ghi nhận các hạn chế: việc chuyển ngôi từ nhà Đinh gây tranh luận chính thống, việc phong quá nhiều hoàng tử ra các địa phương và xác định người kế vị muộn dẫn tới nội chiến hoàng tộc sau năm 1005. Do đó, Lê Đại Hành nên được nhìn như người củng cố nền quân chủ độc lập Đại Cồ Việt trong giai đoạn cực kỳ mong manh sau nhà Đinh, đồng thời là vị vua mà thành công quân sự–ngoại giao vượt trội hơn mức độ hoàn thiện của thiết chế kế vị và hành chính triều đại.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Thiên Phúc (980–988); Hưng Thống (989–993); Ứng Thiên (994–1005)
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Địa điểm
Hoa Lư, Đại Cồ Việt; Bạch Đằng – Lục Đầu – vùng biên phía Bắc; Thanh Hóa – Nghệ An; Champa
Nguồn
Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển I, Kỷ nhà Tiền Lê, bản dịch Viện KHXH Việt Nam/NXB KHXH; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục; Việt sử lược, phần Tiền Lê; Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, “Nhà Tiền Lê, kinh đô Hoa Lư (980–1009)”: https://scov.gov.vn/dat-nuoc-con-nguoi/tom-tat-bien-nien-su-vn/xii.-nha-tien-le-kinh-do-hoa-lu-29-nam-980-1009-.html ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Phát huy giá trị lịch sử... Đền thờ Lê Hoàn”: https://bvhttdl.gov.vn/phat-huy-gia-tri-lich-su-van-hoa-kien-truc-nghe-thuat-doc-dao-den-tho-le-hoan-20230428154547278.htm ; Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, bản trên Cổng Tư liệu Văn kiện ĐCSVN: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/lich-su-tu-tuong-quan-su-viet-nam-tap-1-tu-the-ky-iii-tr-cn-den-the-ky-xv-324 ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Dương Vân Nga – người hai lần làm hoàng hậu”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/15109/duong-van-nga-nguoi-hai-lan-lam-hoang-hau.html
Trạng thái
Đã đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

980

1.1. Tiền Lê

Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, lập nhà Tiền Lê

Trước nguy cơ quân Tống xâm lược và do Đinh Toàn còn nhỏ, Lê Hoàn được triều đình và quân đội tôn lên ngôi Hoàng đế, mở đầu triều Tiền Lê.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Thiên Phúc
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

980–981

1.1. Tiền Lê

Nhà Tống xâm lược Đại Cồ Việt

Nhà Tống đưa quân bộ và thủy quân tiến vào Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành trực tiếp tổ chức kháng chiến.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Thiên Phúc
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Lạng Sơn - Bạch Đằng - Chi Lăng
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

981

1.1. Tiền Lê

Chiến thắng quân Tống năm 981

Quân Đại Cồ Việt đánh bại các đạo quân Tống. Chiến thắng giúp bảo vệ nền độc lập của quốc gia mới được củng cố và khẳng định vị thế của nhà Tiền Lê.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Thiên Phúc
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Bạch Đằng - Chi Lăng
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

982

1.1. Tiền Lê

Lê Đại Hành tiến đánh Champa

Sau khi sứ giả Đại Cồ Việt bị bắt, Lê Đại Hành tiến quân về phía nam, đánh Champa và phá hủy kinh đô của đối phương theo ghi chép sử liệu.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Thiên Phúc
Loại sự kiện
Quân sự / Ngoại giao
Địa điểm
Champa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

982

4.2. Champa

Quân Lê Hoàn tiến đánh Champa

Theo sử Việt, sau việc sứ giả bị giữ, Lê Hoàn đưa quân đánh Champa; Bê Mi Thuế tử trận. Chiến dịch gây tổn thất lớn cho trung tâm quyền lực phía bắc. Đây là một cuộc chiến quan trọng, chưa phải sự sáp nhập toàn bộ Champa.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
4.2. Champa
Vương triều
4.2. Champa
Người trị vì
Bê Mi Thuế, tên theo sử Việt
Niên hiệu
—
Tên nước
Champa
Loại sự kiện
Quân sự; Chính trị
Địa điểm
Miền bắc Champa
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Lê Đại Hành
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

990

1.1. Tiền Lê

Sứ thần nhà Tống đến Hoa Lư

Quan hệ với nhà Tống dần ổn định sau chiến tranh. Sứ thần Tống Cảo đến Hoa Lư năm 990, cho thấy vị thế của Đại Cồ Việt trong quan hệ bang giao khu vực.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Ứng Thiên
Loại sự kiện
Ngoại giao
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1005

1.1. Tiền Lê

Lê Đại Hành qua đời

Lê Đại Hành mất sau khoảng 25 năm trị vì. Sau đó các hoàng tử tranh giành ngôi báu, mở ra một giai đoạn bất ổn mới của nhà Tiền Lê.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Đại Hành
Niên hiệu
Ứng Thiên
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1005

1.1. Tiền Lê

Thời vua Lê Trung Tông

Con trai của Lê Đại Hành, em của Lê Long Đĩnh

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Trung Tông
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1005–1009

1.1. Tiền Lê

Thời vua Lê Long Đĩnh

Em trai của Lê Trung Tông, đều là con Lê Đại Hành

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Long Đĩnh
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1006–1007

1.1. Tiền Lê

Khủng hoảng kế vị và Lê Long Đĩnh nắm quyền. Niên hiệu Ứng Thiên

Sau khi Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh giành ngôi báu. Lê Trung Tông chỉ ở ngôi trong thời gian rất ngắn trước khi bị Lê Long Đĩnh giết. Lê Long Đĩnh trở thành vua và trị vì đến năm 1009.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Long Đĩnh
Niên hiệu
Ứng Thiên
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1008–1009

1.1. Tiền Lê

Khủng hoảng kế vị và Lê Long Đĩnh nắm quyền. Niên hiệu Cảnh Thuỵ

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1.1. Tiền Lê
Vương triều
1.1. Tiền Lê
Người trị vì
Lê Long Đĩnh
Niên hiệu
Cảnh Thụy
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1009

5. Thời Lý

Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nhà Lý

Sau khi Lê Long Đĩnh qua đời, Lý Công Uẩn, khi đó giữ chức Tả Thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, được triều đình và lực lượng chính trị ủng hộ lên ngôi, mở đầu triều Lý.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Công Uẩn
Niên hiệu
Thuận Thiên
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1009–1028

5. Thời Lý

Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ (974 - 1028)

Tả Thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ; trước đó từng giữ các chức vụ quân sự dưới triều Tiền Lê. Lý Công Uẩn, miếu hiệu Lý Thái Tổ, là người sáng lập vương triều Lý. Đại Việt sử ký toàn thư chép ông người châu Cổ Pháp, Bắc Giang, mẹ họ Phạm, sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, được các công trình lịch pháp hiện đại quy đổi thành 08/03/974. Tuy nhiên, phần nguồn gốc huyết thống của ông là một vấn đề sử học cần phân biệt rõ giữa chính sử, truyền thuyết và nghiên cứu hiện đại. Toàn thư kể mẹ ông “có thai với thần nhân”, rồi khi ông ba tuổi đem giao cho Lý Khánh Văn nuôi; về sau ông được thiền sư Vạn Hạnh dạy dỗ. Đây là lớp kể chuyện mang rõ dấu ấn huyền thoại hóa người sáng lập triều đại. Nghiên cứu hiện đại về nguyên quán Lý Công Uẩn còn chỉ ra một nhóm sử liệu Trung Hoa gần đương thời cho rằng dòng họ của ông có liên hệ với vùng Mân/Phúc Kiến, trong khi sử liệu Việt Nam truyền thống xác định ông là người Cổ Pháp; vấn đề này chưa hoàn toàn được giới sử học giải quyết thống nhất. (Cơ Quan Chủ Nghĩa Nhà Nước Việt Nam) Lý Công Uẩn trưởng thành trong môi trường Phật giáo ở Cổ Pháp, nơi các thiền sư có ảnh hưởng chính trị–văn hóa đáng kể. Ông sau đó vào Hoa Lư làm quan cho nhà Tiền Lê. Dưới thời Lê Trung Tông, ông giữ chức trong quân túc vệ; đến thời Lê Long Đĩnh, được thăng lên Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, một chức võ quan cao cấp trực tiếp nắm quân bảo vệ cung đình. Sử chép khi Lê Trung Tông bị giết, các quan đều chạy trốn, riêng Lý Công Uẩn ôm xác vua khóc; Lê Long Đĩnh thấy vậy cho là trung nghĩa nên tiếp tục trọng dụng. Chi tiết này quan trọng vì nó cho thấy ông không phải một hào trưởng bên ngoài tiến vào giành quyền mà là một quan quân cao cấp ngay trong trung tâm quyền lực Tiền Lê, có uy tín với quân túc vệ và triều thần. (Cơ Quan Chủ Nghĩa Nhà Nước Việt Nam) Cuối năm 1009, Lê Long Đĩnh mất, con còn nhỏ, triều Tiền Lê rơi vào khủng hoảng kế vị. Quan Đào Cam Mộc cùng nhiều đại thần và giới tăng sĩ, trong đó truyền thống đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Vạn Hạnh, vận động tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Những lời sấm về họ Lý thay họ Lê được sử sách ghi lại nhưng mang màu sắc chính danh hóa hậu thế, cần tách khỏi các dữ kiện chính trị chắc chắn hơn: Lý Công Uẩn lúc đó giữ lực lượng túc vệ, có uy tín trong triều và được một bộ phận lớn quan lại ủng hộ. Nghiên cứu lịch pháp hiện đại dựa trên Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục xác định ông lên ngôi vào ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu, tương ứng 21/11/1009. (Minh Triết Việt) Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn lấy miếu hiệu Thái Tổ, đặt niên hiệu Thuận Thiên từ năm 1010, tiếp tục sử dụng quốc hiệu Đại Cồ Việt do nhà Đinh đặt từ 968. Một trong những quyết định lớn đầu tiên của ông là dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La. Mùa xuân 1010, nhà vua về thăm Cổ Pháp, ban thưởng cho các bô lão, rồi cử sứ sang Tống kết hảo. Sau đó ông ban Thiên đô chiếu – Chiếu dời đô, lập luận rằng Hoa Lư phù hợp với hoàn cảnh phòng thủ của hai triều Đinh–Tiền Lê nhưng không còn thích hợp cho một nhà nước muốn phát triển lâu dài; Đại La nằm ở vị trí trung tâm, đất rộng bằng phẳng, cao ráo, thuận lợi cho dân cư và kinh tế. Tháng 7/1010, triều đình chính thức chuyển kinh đô. Khi thuyền vua đến Đại La, sử chép có điềm rồng vàng bay lên nên đổi tên thành Thăng Long. Phần “rồng bay” thuộc ngôn ngữ điềm lành của sử học trung đại; điều có thể kiểm chứng về chính trị là việc chọn vùng châu thổ sông Hồng làm trung tâm lâu dài thay cho kinh đô phòng thủ miền núi Hoa Lư. (Khoa Lịch sử) Quyết định dời đô là bước ngoặt lớn trong lịch sử nhà nước Việt Nam. Hoa Lư có ưu thế quân sự trong thế kỷ X nhưng không gian hạn chế; Thăng Long nằm trên hệ thống sông ngòi lớn, gần vùng sản xuất nông nghiệp đông dân và các tuyến giao thương. Việc đặt trung tâm chính trị ở đây tạo điều kiện để triều Lý xây dựng một kinh đô quy mô lớn hơn và một chính quyền trung ương ổn định hơn. Nghiên cứu quốc tế về lịch sử không gian Thăng Long coi lựa chọn của Lý Công Uẩn là bước tái cấu trúc trung tâm quyền lực lâu dài của miền Bắc Việt Nam. (Cambridge) Ngay sau khi dời đô, nhà vua cho xây dựng hệ thống cung điện và cơ sở hành chính tại Thăng Long. Toàn thư ghi dựng các điện Càn Nguyên, Tập Hiền, Giảng Võ, các cung Long An, Long Thụy và nhiều công trình khác; ngoài thành còn dựng chùa, cung quán và kho tàng. Năm 1011, triều đình dựng cung Đại Thanh, chùa Vạn Tuế và kho Trấn Phúc, cho thấy Thăng Long ngay từ đầu vừa là trung tâm chính trị, vừa có chức năng tôn giáo và hậu cần. (Scholar DLU) Về tổ chức hành chính, Lý Thái Tổ tiếp tục cải tổ mô hình nhà nước từ thời Đinh–Tiền Lê. Năm 1010, triều đình đổi 10 đạo thành 24 lộ, đồng thời đặt Hoan Châu và Ái Châu làm trại. Đây là một trong những bước đầu tiên của quá trình xây dựng cơ cấu hành chính nhà Lý. Việc sử dụng lộ, phủ, châu và trại phản ánh sự khác biệt trong mức độ kiểm soát giữa vùng đồng bằng trung tâm và các khu vực biên viễn. (AnyFlip) Những năm đầu triều Lý chưa hoàn toàn yên ổn. Quyền lực trung ương vẫn phải đối phó với nhiều lực lượng địa phương. Năm 1011, Lý Thái Tổ trực tiếp đem quân đánh lực lượng Cử Long ở Ái Châu, nơi sử chép hai triều Đinh và Lê trước đó chưa dẹp được. Năm 1012, ông thân chinh đánh Diễn Châu; năm 1013 tiếp tục đánh châu Vị Long khi thủ lĩnh Hà Án Tuấn chống triều đình; năm 1014, quân từ vùng phía bắc do Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí tiến vào khu vực Kim Hoa, triều đình tổ chức phản kích và đánh lui. Những chiến dịch này cho thấy việc thành lập nhà Lý và dời đô không đồng nghĩa quyền lực trung ương ngay lập tức được chấp nhận trên toàn bộ lãnh thổ; trong hơn một thập niên đầu, triều đình vẫn phải kết hợp quân sự, phong tước và quan hệ với thủ lĩnh địa phương để củng cố quyền lực. (Khoa Văn Học Ngôn Ngữ) Từ thập niên 1020, Lý Thái Tổ ngày càng giao nhiệm vụ quân sự cho các hoàng tử, đặc biệt Thái tử Lý Phật Mã, sau là Lý Thái Tông. Năm 1020–1021, Phật Mã cùng Đào Thạc Phụ chỉ huy quân đánh khu vực biên giới Champa; năm 1024 ông được sai đi đánh Phong Châu, trong khi các hoàng tử khác phụ trách những địa bàn khác; năm 1026 Khai Thiên Vương tiếp tục đi đánh Diễn Châu. Việc này vừa là phương thức kiểm soát các vùng biên, vừa giúp người kế vị tích lũy kinh nghiệm quân sự và chính trị. (Nghiên Cứu Lịch Sử) Về ngoại giao với nhà Tống, ngay sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ chủ động cử sứ sang thiết lập quan hệ. Nhà Tống sau đó phong ông các tước hiệu trong hệ thống bang giao như Giao Chỉ Quận Vương, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, trong khi ở trong nước ông vẫn xưng Hoàng đế và sử dụng niên hiệu riêng. Đây tiếp tục là mô hình bang giao đã hình thành dưới Đinh–Tiền Lê: độc lập về thiết chế và đế hiệu trong nước, nhưng chấp nhận tước phong trong quan hệ ngoại giao với Trung Hoa để duy trì hòa bình và tính ổn định ở biên giới. Việc trao đổi sứ bộ diễn ra nhiều lần trong thời trị vì của ông. (Nghiên Cứu Lịch Sử) Phật giáo giữ vai trò đặc biệt quan trọng dưới triều Lý Thái Tổ. Bản thân nhà vua trưởng thành trong môi trường chùa chiền và có mối quan hệ sâu sắc với thiền sư Vạn Hạnh. Sau khi lên ngôi ông cho xây dựng và tu sửa nhiều chùa, đúc chuông, độ tăng. Năm 1018, triều đình cử Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nhà Tống xin Đại Tạng kinh/Tam Tạng kinh, sau đó đưa về bảo quản trong kho Đại Hưng. Đây là một sự kiện thể hiện cả vị thế của Phật giáo lẫn hoạt động giao lưu văn hóa giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống. (Voer) Tuy nhiên, việc mô tả Lý Thái Tổ đơn giản là “lấy Phật giáo làm quốc giáo” cần thận trọng vì khái niệm quốc giáo theo nghĩa hiện đại không hoàn toàn phù hợp với cấu trúc nhà nước thế kỷ XI. Chính xác hơn là Phật giáo có vị trí đặc biệt trong đời sống triều đình, cung cấp một tầng lớp trí thức có ảnh hưởng và nhận được sự bảo trợ lớn của nhà nước; đồng thời Nho giáo và Đạo giáo vẫn tồn tại trong cơ cấu tư tưởng, nghi lễ và quản trị. Việc nhà vua dựng cung Đại Thanh thờ Đạo giáo ngay tại Thăng Long cho thấy đời sống tôn giáo nhà Lý có tính đa dạng hơn cách mô tả chỉ dựa trên Phật giáo. (Scholar DLU) Trong lĩnh vực xã hội và tài chính, sử chép Lý Thái Tổ nhiều lần xá thuế, miễn thuế và đại xá, đặc biệt trong những năm đầu triều đại. Chính sách này có thể hiểu trong bối cảnh một vương triều mới cần củng cố sự ủng hộ của dân chúng và tái ổn định xã hội sau những biến động cuối Tiền Lê. Tuy nhiên, không nên hiện đại hóa điều này thành một hệ thống “phúc lợi” hoàn chỉnh; bộ máy thuế khóa và quản trị nhà Lý lúc đầu vẫn đang trong quá trình định hình. Các nghiên cứu gần đây đọc Chiếu dời đô như một văn bản thể hiện tư tưởng đặt lợi ích dân sinh và sự ổn định lâu dài của quốc gia trong quyết định chính trị, nhưng đây là cách diễn giải sử học hiện đại dựa trên văn bản, không phải khái niệm “quyền con người” theo nghĩa pháp lý ngày nay. (Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh) Về kế vị, Lý Thái Tổ có nhiều hoàng tử và phong vương cho họ, trong đó Lý Phật Mã được lập làm Thái tử năm 1012. Việc lập người kế vị tương đối sớm giúp xác định chính thống, nhưng không loại bỏ hoàn toàn xung đột giữa các hoàng tử. Đến cuối đời vua, các vương vẫn nắm lực lượng riêng tại những địa bàn khác nhau. Ngày mùng 3 tháng 3 năm Mậu Thìn, tức 31/03/1028, Lý Thái Tổ mất tại điện Long An, sau khoảng 18 năm 4 tháng trị vì nếu tính từ ngày lên ngôi cuối năm 1009. Nguồn sử Việt truyền thống thường ghi ông “ở ngôi 19 năm” theo cách tính niên đại bao gồm cả năm đầu và năm cuối. Ngay sau khi vua mất, ba hoàng tử Vũ Đức Vương, Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương đem quân vây cung nhằm tranh ngôi với Thái tử Phật Mã, dẫn đến Loạn Tam Vương. Lê Phụng Hiểu giết Vũ Đức Vương, hai vương còn lại bỏ chạy; ngày hôm sau Phật Mã lên ngôi, tức Lý Thái Tông. (Nghiên Cứu Lịch Sử) Về đánh giá lịch sử, đóng góp quan trọng nhất của Lý Thái Tổ không chỉ là việc “sáng lập nhà Lý”. Ông tiếp quản một nhà nước đã giành được độc lập từ thế kỷ X nhưng còn mang nhiều đặc điểm quân sự–cát cứ, rồi đưa trung tâm quyền lực từ Hoa Lư sang Thăng Long, cải tổ hành chính, củng cố quân đội và biên giới, duy trì quan hệ hòa hiếu với nhà Tống và tạo ra một môi trường chính trị–văn hóa mà triều Lý có thể tiếp tục phát triển hơn hai thế kỷ. Quyết định dời đô đặc biệt có ảnh hưởng vượt xa đời ông: Thăng Long trở thành trung tâm chính trị quan trọng của Việt Nam qua phần lớn lịch sử trung đại và hiện đại. Vì vậy Lý Thái Tổ nên được nhìn như vị vua chuyển nhà nước Đại Cồ Việt từ mô hình quyền lực thế kỷ X dựa nhiều vào kinh đô phòng thủ và quân sự sang một nhà nước có trung tâm hành chính–đô thị lâu dài ở đồng bằng sông Hồng. Đồng thời, cần tránh tuyệt đối hóa: nguồn gốc của ông còn nhiều truyền thuyết; triều đình vẫn phải sử dụng chiến tranh để kiểm soát nhiều vùng; và cuộc tranh ngôi ngay sau khi ông mất cho thấy cơ cấu quyền lực hoàng tộc vẫn chưa hoàn toàn ổn định. (thanglong.chinhphu.vn)

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tổ
Niên hiệu
Thuận Thiên (1010–1028)
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Địa điểm
Cổ Pháp, Bắc Giang/Kinh Bắc; Hoa Lư; Thăng Long; Ái Châu; Diễn Châu; Vị Long; các vùng biên phía Bắc và phía Nam Đại Cồ Việt
Ngày bắt đầu
21/11/1009
Ngày kết thúc
31/03/1028
Nguồn
Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển II, Kỷ nhà Lý, bản dịch Viện KHXH Việt Nam/NXB KHXH; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục; Đại Việt sử lược, quyển II; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, chương Nhà Lý; Nguyễn Phúc Anh, “Những tư liệu về nguyên quán của Lý Công Uẩn”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, 2012, https://vjol.info.vn/ncpt-hue/vi/article/view/8731/ ; Nguyễn Hải Kế, “Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn – Những giá trị chưa bao giờ cũ”, Khoa Lịch sử, ĐHQGHN, https://his.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/bai-chuyen-duyet-thanh-vien-nhom-cong-tac-vien/thien-do-chieu-cua-vua-ly-cong-uan-nhung-gia-tri-chua-bao-gio-cu-5712.html ; Cổng TTĐT Chính phủ – Thăng Long, “Dâng hương tưởng niệm… vua đầu tiên của vương triều Lý”, https://thanglong.chinhphu.vn/dang-huong-tuong-niem-tri-an-cong-duc-vi-vua-dau-tien-cua-vuong-trieu-ly-10332951.htm ; Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, bản điện tử trên Cổng Tư liệu Văn kiện ĐCSVN.
Trạng thái
Đã đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1010

5. Thời Lý

Chiếu dời đô

Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô, quyết định chuyển trung tâm chính trị từ Hoa Lư đến thành Đại La, nơi được đánh giá có vị trí thuận lợi hơn cho sự phát triển lâu dài của quốc gia.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tổ
Niên hiệu
Thuận Thiên
Loại sự kiện
Chính trị / Địa lý
Địa điểm
Hoa Lư → Đại La
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1010–1011

5. Thời Lý

Hoàng thành Thăng Long – xây dựng kinh đô mới

Kế thừa thành Đại La; kinh đô mới của nhà Lý. Sau khi lên ngôi năm 1009, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La vào mùa thu 1010 và đổi tên thành Thăng Long. Nhà Lý nhanh chóng xây dựng hệ thống cung điện và thành quách mới; các công trình cơ bản của kinh thành hoàn thành vào đầu năm 1011. Đây là khởi đầu của không gian Hoàng thành Thăng Long, sau đó tiếp tục được mở rộng và biến đổi dưới các triều Trần, Lê, Mạc, Lê Trung Hưng và Nguyễn.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tổ
Niên hiệu
Thuận Thiên
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Chính trị; Hành chính; Kiến trúc; Lãnh thổ
Địa điểm
Thăng Long, Hà Nội
Nguồn
Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội; UNESCO World Heritage Centre (Hoàng Thành Thăng Long)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1019–1105

5. Thời Lý

Lý Thường Kiệt – Ngô Tuấn (1019–1105)

Đại thần; Thái úy; chỉ huy quân đội Đại Việt. Lý Thường Kiệt là một trong những đại thần và nhà quân sự có ảnh hưởng lớn nhất của vương triều Lý. Các nguồn hiện nay thống nhất tương đối chắc chắn ông sinh năm 1019 và mất năm 1105, nhưng chưa xác định được ngày–tháng sinh và chính sử chỉ ghi ông mất vào tháng 6 năm 1105. Đại Việt sử ký toàn thư ghi khi ông mất rằng ông là người phường Thái Hòa, thành Thăng Long, nhiều mưu lược và có tài làm tướng; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và hệ thống văn bia–gia phả cho biết ông vốn thuộc họ Ngô, tên húy Tuấn, tự Thường Kiệt, về sau được vua ban quốc tính họ Lý, vì vậy được gọi phổ biến là Lý Thường Kiệt. Nguồn văn bia tại đền thờ ở Thanh Hóa cũng giải thích “Thường Kiệt” vốn là tên tự, có khả năng được dùng như tên chính từ khi ông xuất thân làm quan. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Các tư liệu gia tộc đời sau nối ông với dòng họ Ngô và thậm chí với Ngô Quyền, nhưng mức độ chắc chắn của quan hệ huyết thống xa này không tương đương với những dữ kiện chính sử. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại, được học cả văn lẫn võ; khoảng tuổi đôi mươi được tuyển vào phục vụ trong cung dưới triều Lý Thái Tông. Tài liệu văn bia và nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết ông từng đảm nhiệm chức quan trong nội đình và từng trải qua việc “tự yểm” để vào cung; đây là một đặc điểm của con đường quan chức ban đầu của ông nhưng không nên dùng nhãn đơn giản “hoạn quan” để giải thích toàn bộ sự nghiệp, bởi từ vị trí nội đình ông dần trở thành một trong những trọng thần quân sự–chính trị hàng đầu quốc gia. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Lý Thường Kiệt làm quan liên tục qua ba triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông, được thăng đến những chức rất cao như Phụ quốc Thái phó, Thái úy, Khai quốc công, và được nhà vua dành cho danh vị đặc biệt như Thiên tử nghĩa đệ. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Năm 1069, khi Lý Thánh Tông thân chinh đánh Champa, Lý Thường Kiệt giữ vai trò chỉ huy quân sự quan trọng. Chiến dịch kết thúc với việc vua Champa Chế Củ bị bắt và phải dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc mình; vùng đất này sau đó trở thành một bộ phận lãnh thổ Đại Việt. Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp quân sự của ông trước cuộc chiến với nhà Tống. Đến thập niên 1070, quan hệ Đại Việt–Tống căng thẳng khi nhà Tống dưới chính sách của Vương An Thạch chuẩn bị lực lượng ở vùng biên giới phía nam. Nhận thấy nguy cơ chiến tranh, triều Lý quyết định không chờ quân Tống tiến vào Đại Việt. Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt thực hiện chiến lược thường được hậu thế gọi là “tiên phát chế nhân”: chủ động đưa quân sang đánh các căn cứ hậu cần–quân sự của Tống ở Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu. Một cánh quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy tiến bằng đường biển, trong khi lực lượng miền núi do các thủ lĩnh biên giới phối hợp tiến theo đường bộ. Khâm và Liêm nhanh chóng bị đánh chiếm; Ung Châu, trung tâm phòng thủ lớn, chống cự lâu hơn trước khi thất thủ. Sau khi phá hệ thống căn cứ và kho tàng quân sự của Tống, quân Đại Việt chủ động rút về để chuẩn bị phòng thủ. Chiến dịch 1075–1076 là trường hợp đặc biệt trong lịch sử quân sự Việt Nam: một cuộc tấn công ra ngoài biên giới nhằm phá thế chuẩn bị xâm lược của đối phương, chứ không nhằm chiếm giữ lâu dài lãnh thổ Tống. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xem đây là một trong những biểu hiện nổi bật của tài chỉ huy Lý Thường Kiệt. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Nhà Tống sau đó tổ chức đại quân do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tiến đánh Đại Việt năm 1076–1077. Lý Thường Kiệt chủ trương xây dựng hệ thống phòng thủ ở phía bắc Thăng Long, trong đó quan trọng nhất là phòng tuyến sông Như Nguyệt – sông Cầu ngày nay. Quân Tống nhiều lần tìm cách vượt sông nhưng gặp sự chống trả quyết liệt và chịu tổn thất, trong khi nguồn tiếp tế từ phía bắc bị khó khăn và đạo thủy quân Tống không phối hợp được hiệu quả với lục quân. Khi tương quan chiến trường chuyển sang thế giằng co và quân Tống lâm vào tình trạng bất lợi, phía Đại Việt chủ động mở đường thương lượng. Việc chủ động đề nghị giảng hòa khi đang có thế, cho phép quân Tống rút lui mà Đại Việt vẫn bảo vệ được nền độc lập, thể hiện ở Lý Thường Kiệt không chỉ năng lực quân sự mà cả tính toán chính trị–ngoại giao nhằm tránh kéo dài chiến tranh và giảm thiệt hại cho dân. Cuộc chiến 1075–1077 trở thành thành tựu quân sự nổi bật nhất trong sự nghiệp của ông. Một vấn đề cần sửa so với cách kể phổ biến trong sách cũ là không nên ghi Lý Thường Kiệt chắc chắn là tác giả bài “Nam quốc sơn hà”. Các nguồn cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái và các truyền bản khác kể việc bài thơ thần được đọc trong bối cảnh chiến tranh nhưng không ghi tên Lý Thường Kiệt là tác giả. Nghiên cứu văn bản của Trần Nghĩa, Hà Văn Tấn, Bùi Duy Tân và nghiên cứu Hán Nôm hiện đại đều lưu ý chưa có chứng cứ để quy tác giả cho ông; bài thơ tồn tại qua hàng chục dị bản và thậm chí có truyền thống gắn với cuộc chiến chống Tống thời Lê Hoàn trước đó. Vì vậy chỉ nên hiểu “Nam quốc sơn hà gắn với truyền thống về cuộc chiến Như Nguyệt dưới quyền Lý Thường Kiệt; tác giả chưa xác định”, không ghi ông là tác giả. (Hội Nhà văn Việt Nam) Sau chiến tranh Tống, vai trò của Lý Thường Kiệt không chấm dứt. Năm 1082, khi đã hơn sáu mươi tuổi, ông được cử vào cai quản Thanh Hóa và giữ nhiệm vụ này đến 1101, tổng cộng khoảng 19 năm. Đây là giai đoạn ít được chính sử kể chi tiết nhưng được làm sáng tỏ đáng kể nhờ văn bia chùa Báo Ân ở An Hoạch, bia Hương Nghiêm và bia Linh Xứng cùng các nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Các văn bia mô tả ông không chỉ giữ an ninh vùng phên dậu phía nam mà còn chú trọng nông nghiệp, thời vụ, giải quyết tranh chấp đất đai, thủ công nghiệp, đào vét thủy lợi, phát triển nghề khai thác–chế tác đá và xây dựng chùa chiền. Bia Linh Xứng ghi nhận quan niệm gần với tư tưởng quản trị rằng dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, và ca ngợi cách cai trị khoan hòa của ông. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Tư liệu bia chùa Báo Ân còn cho thấy dưới quyền ông, khu vực An Hoạch/Núi Nhồi được khai thác đá có tổ chức, góp phần vào sự phát triển nghề đá nổi tiếng của Thanh Hóa. Ông cũng tham gia xây dựng, tu bổ nhiều công trình Phật giáo, đặc biệt là chùa Linh Xứng, phản ánh mối quan hệ rất chặt giữa nhà nước thời Lý, quan lại và Phật giáo. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Năm 1101, Lý Thường Kiệt được gọi trở lại triều đình. Dù đã trên tám mươi tuổi, ông vẫn tiếp tục tham gia công việc quân sự: năm 1103 dẹp cuộc nổi dậy của Lý Giác ở Diễn Châu; năm 1104, khi vua Champa Chế Ma Na lợi dụng tình hình đem quân lấy lại ba châu mà Chế Củ từng dâng, Lý Nhân Tông sai ông đem quân đánh; quân Đại Việt thắng và Champa phải trả lại đất. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ chiến dịch này ngay trước năm ông mất. (Tủ Sách) Tháng 6 năm 1105, Thái úy Lý Thường Kiệt qua đời. Đại Việt sử ký toàn thư ghi triều đình truy tặng ông Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu Thái úy Bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc công, thực ấp một vạn hộ, đồng thời cho em ông là Lý Thường Hiến được kế phong. (Tủ Sách) Xét toàn bộ sự nghiệp, Lý Thường Kiệt không chỉ là người chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tống. Ông có một sự nghiệp kéo dài hơn sáu thập niên bao gồm quân sự, ngoại giao, hành chính địa phương, phát triển kinh tế–nông nghiệp và bảo trợ Phật giáo, phục vụ ba đời vua Lý. Thành tựu nổi bật nhất là việc kết hợp đánh phủ đầu ngoài biên giới – xây phòng tuyến trong nước – chủ động nghị hòa khi có lợi, cho thấy một tư duy chiến lược linh hoạt hiếm thấy trong lịch sử quân sự trung đại Việt Nam.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tông; Lý Thánh Tông; Lý Nhân Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quân sự; Chính trị; Hành chính; Ngoại giao; Kinh tế; Nông nghiệp; Văn hóa; Tôn giáo
Địa điểm
Thăng Long; Champa; Khâm Châu; Liêm Châu; Ung Châu; phòng tuyến Như Nguyệt; Thanh Hóa; Diễn Châu; Bố Chính
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ nhà Lý, bản dịch Viện KHXH Việt Nam/NXB KHXH; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Hiền thần Lý Thường Kiệt”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/65234/hien-than-ly-thuong-kiet.html ; “Góp thêm tư liệu về gia tộc Lý Thường Kiệt”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/19861/gop-them-tu-lieu-ve-gia-toc-ly-thuong-kiet.html ; “Tổng trấn Thanh Hóa Lý Thường Kiệt qua tư liệu văn bia”: https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3096/68457/tong-tran-thanh-hoa-ly-thuong-kiet-qua-tu-lieu-van-bia.html ; Phạm Hoàng Mạnh Hà, “Những đóng góp của Lý Thường Kiệt trong việc trị an và phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng châu thổ sông Mã”, Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 2015; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu về Nam quốc sơn hà: https://hannom.vass.gov.vn/nghien-cuu-van-ban/hon-nho-viet-trong-quoc-to-nam-quoc-son-ha-va-binh-ngo-dai-cao-tap-chi-han-nom-so-5-102-2010-tr-15-26-506657 ; Phạm Võ Thanh Hà, “Pháp Thuận có phải là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà?”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển 2(100), 2013.
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1028–1054

5. Thời Lý

Thời vua Lý Thái Tông

Con trai của Lý Thái Tổ

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tông
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1028

5. Thời Lý

Lý Thái Tông lên ngôi và dẹp loạn Tam vương

Sau khi Lý Thái Tổ qua đời, các hoàng tử nổi dậy tranh ngôi. Lý Thái Tông cùng triều đình đánh bại cuộc nổi loạn và củng cố quyền lực trung ương.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tông
Niên hiệu
Thiên Thành
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Thăng Long
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1044

5. Thời Lý

Lý Thái Tông tiến đánh Champa

Nhà Lý tiến hành chiến dịch lớn về phía nam, đánh bại quân Champa. Đây là một trong những dấu mốc quan trọng trong quan hệ Đại Việt-Champa thời Lý.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Thời Lý
Vương triều
2. Lý
Người trị vì
Lý Thái Tông
Niên hiệu
Thiên Cảm Thánh Vũ
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Champa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

Dữ liệu từ bảng công khai của Lazi Voyage; được lưu cùng website để tra cứu ổn định.