Tra cứu các giai đoạn, nhân vật, sự kiện và nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam.
687 sự kiện · Trang 2 / 35
937
Thời kỳ tự chủ
Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ
Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ, gây ra khủng hoảng chính trị và đe dọa nền tự chủ vừa được khôi phục.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Họ Dương
Người trị vì
Kiều Công Tiễn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Đại La
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
938
Thời kỳ tự chủ
Ngô Quyền tiến quân ra Bắc và tiêu diệt Kiều Công Tiễn
Ngô Quyền từ Ái Châu kéo quân ra Bắc để đánh Kiều Công Tiễn. Ông nhanh chóng chiếm Đại La và giết Công Tiễn trước khi quân Nam Hán có thể phối hợp với lực lượng này.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Quyền
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Đại La
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
938
Thời kỳ tự chủ
Chiến thắng Bạch Đằng
Quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy tiến vào bằng đường biển. Ngô Quyền bố trí trận địa cọc ngầm kết hợp thủy quân và lực lượng mai phục, đánh tan quân xâm lược trên sông Bạch Đằng.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Quyền
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Sông Bạch Đằng
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
939–944
Thời kỳ tự chủ
Ngô Quyền xưng vương, xây dựng chính quyền độc lập
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa và tổ chức lại chính quyền, đặt nền móng cho nhà Ngô.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Quyền
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Cổ Loa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
944
Thời kỳ tự chủ
Ngô Quyền qua đời
Ngô Quyền mất sau khoảng sáu năm trị vì. Việc kế vị không ổn định tạo điều kiện cho khủng hoảng chính trị trong triều đình.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Quyền
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Cổ Loa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
944–950
Thời kỳ tự chủ
Dương Tam Kha cướp ngôi
Sau khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha, em của Dương hậu, cướp ngôi của Ngô Xương Ngập và tự xưng Dương Bình Vương.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Dương Tam Kha
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Cổ Loa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Cổng thông tin Đối ngoại Việt Nam
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
950
Thời kỳ tự chủ
Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha
Ngô Xương Văn được Dương Tam Kha sai đem quân đi đánh Thái Bình nhưng quay về lật đổ ông ta. Ngô Xương Văn lên ngôi, sau đó đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng cai trị.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Xương Văn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Cổ Loa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
951–965
Thời kỳ tự chủ
Thời Hậu Ngô Vương
Hai anh em Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cùng cai trị. Tuy nhiên chính quyền trung ương ngày càng suy yếu và khó kiểm soát các địa phương.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Xương Ngập & Ngô Xương Văn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Cổ Loa
Nguồn
Cổng thông tin Đối ngoại Việt Nam; Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
954
Thời kỳ tự chủ
Ngô Xương Ngập qua đời
Ngô Xương Ngập qua đời, Ngô Xương Văn tiếp tục nắm quyền. Tình trạng phân quyền và bất ổn ở các địa phương tiếp tục gia tăng.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Xương Văn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
—
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
965
Thời kỳ tự chủ
Ngô Xương Văn qua đời
Ngô Xương Văn tử trận trong khi đi đánh các lực lượng chống đối. Sau cái chết của ông, chính quyền nhà Ngô nhanh chóng tan rã và các thế lực địa phương cát cứ.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời kỳ tự chủ
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Ngô Xương Văn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị / Quân sự
Địa điểm
—
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
965–967
Loạn 12 sứ quân
Các thế lực địa phương cát cứ
Sau khi chính quyền nhà Ngô suy yếu, nhiều hào trưởng và tướng lĩnh chiếm giữ các vùng riêng, hình thành cục diện phân liệt.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Loạn 12 sứ quân
Vương triều
Ngô
Người trị vì
Các sứ quân
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị / Quân sự
Địa điểm
Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; nghiên cứu HNUE
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
966–967
Loạn 12 sứ quân
Đinh Bộ Lĩnh nổi lên ở Hoa Lư
Đinh Bộ Lĩnh xây dựng lực lượng tại Hoa Lư, liên kết với Trần Lãm và từng bước trở thành một thế lực mạnh trong cuộc tranh giành quyền lực.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Loạn 12 sứ quân
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Bộ Lĩnh
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
967–968
Loạn 12 sứ quân
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân
Đinh Bộ Lĩnh lần lượt khuất phục các thế lực cát cứ, thống nhất đất nước sau thời kỳ phân liệt. Đại Việt sử ký toàn thư ghi năm 967 là thời điểm các sứ quân tranh hùng và Đinh Bộ Lĩnh nổi lên.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Loạn 12 sứ quân
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Bộ Lĩnh
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Bắc Bộ
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Cổng thông tin Đối ngoại Việt Nam
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
968–979
1. Đinh
Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Tiên Hoàng (924 - 979)
Đinh Bộ Lĩnh, sau khi lên ngôi thường được sử gọi là Đinh Tiên Hoàng, sinh năm Giáp Thân 924 tại động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, vùng nay thuộc Ninh Bình. Đại Việt sử ký toàn thư chép ông là con của Đinh Công Trứ, người từng làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, sau được giao quyền Thứ sử châu Hoan và tiếp tục giữ chức này dưới thời Ngô Quyền. Sau khi Đinh Công Trứ mất, Đinh Bộ Lĩnh theo mẹ trở về quê. Truyền thống sử học nổi tiếng kể thời nhỏ ông thường cùng trẻ chăn trâu lấy bông lau làm cờ, tổ chức trò đánh trận và được những trẻ khác suy tôn làm thủ lĩnh; chi tiết này được ghi trong sử cũ nhưng mang màu sắc của mô-típ tiểu sử anh hùng, vì vậy nên coi là ký ức sử học truyền thống hơn là dữ kiện hành chính có thể kiểm chứng độc lập. Toàn thư mô tả Đinh Bộ Lĩnh trưởng thành là người “có khí lượng”, được nhiều người theo phục. Trong quá trình xây dựng lực lượng, ông cùng con là Đinh Liễn tìm đến nương nhờ Trần Lãm – Trần Minh Công, một trong những thế lực mạnh tại Bố Hải Khẩu. Trần Lãm không có con nối dõi, thấy Đinh Bộ Lĩnh có tài nên nhận làm con, giao binh quyền và sai đánh các thế lực khác. Sau khi Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh kế thừa lực lượng và địa bàn này, tạo nền tảng quan trọng để mở rộng thế lực. (Anyflip) Sau khi Ngô Quyền mất năm 944, triều Ngô suy yếu; đến giữa thế kỷ X quyền lực trung ương tan rã, các hào trưởng và thủ lĩnh địa phương cát cứ, hình thành tình trạng mà sử gọi là “Loạn 12 sứ quân”. Đinh Bộ Lĩnh từ căn cứ Hoa Lư và Bố Hải Khẩu lần lượt sử dụng cả liên minh, thu phục và chiến tranh để loại bỏ hoặc khuất phục các thế lực đối địch. Những sứ quân như Trần Lãm trở thành đồng minh hoặc được sáp nhập bằng quan hệ chính trị, trong khi các lực lượng như Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Nguyễn Thủ Tiệp, Kiều Thuận, Lý Khuê bị đánh bại bằng quân sự. Đến cuối năm 967, quá trình thống nhất cơ bản hoàn thành; Đinh Bộ Lĩnh được tôn xưng Vạn Thắng Vương. Đây là tiền đề trực tiếp để ông chuyển từ một thủ lĩnh quân sự địa phương thành người đứng đầu một nhà nước thống nhất. (vnexpress.net) Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, xưng Đại Thắng Minh Hoàng Đế, lập triều Đinh, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt và đóng đô tại Hoa Lư. Đại Việt sử ký toàn thư ghi ông “đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi”. Việc xưng Hoàng đế, thay vì chỉ xưng Vương hay giữ danh hiệu Tiết độ sứ theo mô hình Trung Hoa, có ý nghĩa lớn trong lịch sử xây dựng nhà nước tự chủ: nhà Đinh tự xác lập một trung tâm đế quyền độc lập ở phương Nam. Việc đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt và xây dựng kinh đô Hoa Lư đồng thời đánh dấu bước chuyển từ thời kỳ các chính quyền tự chủ sau Bắc thuộc sang một nhà nước quân chủ có thiết chế riêng tương đối hoàn chỉnh. Nguồn chính thống của Ninh Bình xác định nhà nước Đại Cồ Việt bắt đầu từ 968, và quốc hiệu này tồn tại đến 1054 qua các triều Đinh, Tiền Lê và đầu thời nhà Lý. (Pháp Luật Ninh Bình) Không có nguồn sử liệu đủ chắc cho ngày–tháng cụ thể Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi trong năm 968. Năm 970, ông chính thức đặt niên hiệu Thái Bình. Toàn thư ghi mùa xuân, tháng Giêng năm Canh Ngọ đặt niên hiệu; vì vậy không dùng “Đại Thắng Minh” làm niên hiệu: Đại Thắng Minh Hoàng Đế là tôn hiệu, còn Thái Bình là niên hiệu. (Biên Niên Sử) Về tổ chức nhà nước, triều Đinh từng bước xây dựng triều nghi và hệ thống chức quan. Năm 971, sử chép “bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo”: Nguyễn Bặc được phong Định Quốc công; Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư; Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân, đứng đầu lực lượng quân sự; thiền sư Ngô Chân Lưu giữ chức Tăng thống và được ban hiệu Khuông Việt đại sư; Trương Ma Ni làm Tăng lục; đạo sĩ Đặng Huyền Quang giữ chức Sùng chân uy nghi. Việc xếp cả quan văn, quan võ, tăng và đạo vào hệ thống chức phẩm cho thấy nhà nước Đinh chưa tách biệt hoàn toàn thiết chế hành chính với giới tôn giáo, nhưng đã bắt đầu xây dựng một cơ cấu quyền lực trung ương có thứ bậc rõ ràng. (Biên Niên Sử) Quân đội được tổ chức theo hệ thống Thập đạo, với Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân. Tài liệu giáo dục lịch sử địa phương của Ninh Bình dẫn Đại Việt sử ký tiền biên mô tả hệ thống quân đội theo các cấp đạo – quân – lữ – tốt – ngũ. Mặc dù con số lý thuyết nếu nhân đầy đủ các cấp tạo ra một quân số rất lớn và không nên hiểu máy móc là quân thường trực thực tế, việc đặt Thập đạo cho thấy triều Đinh đã cố gắng tổ chức lực lượng quân sự theo một hệ thống thống nhất của triều đình thay cho các đội quân cát cứ trước đó. (Trường THPT Hoàng Văn Thụ) Về pháp luật và trật tự, Toàn thư và các sử sau chép rằng Đinh Tiên Hoàng cho đặt vạc lớn ở sân triều và nuôi hổ dữ trong cũi, tuyên bố người phạm pháp nghiêm trọng có thể bị bỏ vào vạc hoặc cho hổ ăn. Các sử gia truyền thống xem đây là biểu hiện của hình pháp rất nghiêm nhằm ổn định xã hội vừa trải qua nội chiến. Tuy nhiên, nguồn của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài lưu ý rằng sử không ghi trường hợp nào thực sự bị thi hành bằng các hình thức đó; vì vậy nên diễn đạt đây là biện pháp răn đe được sử chép lại, không nên khẳng định triều Đinh thường xuyên hành hình bằng vạc dầu và hổ. (Scov) Về kinh tế và tiền tệ, thời Đinh xuất hiện loại tiền đồng thường được gọi Thái Bình Hưng Bảo, mặt sau có chữ “Đinh”. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác nhận tiền thời Đinh là hiện vật có thật, dù cũng chỉ ra vấn đề văn tự học thú vị: chữ trên đồng tiền có thể đọc là “Đại” thay vì “Thái”, trong khi các nhà nghiên cứu lâu nay thường liên hệ tên tiền với niên hiệu Thái Bình. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Phật giáo có vị trí đáng kể dưới triều Đinh. Việc phong Ngô Chân Lưu làm Tăng thống, ban hiệu Khuông Việt đại sư và đưa tăng đạo vào phẩm trật nhà nước cho thấy nhà vua sử dụng tầng lớp tăng sĩ không chỉ trong tôn giáo mà cả trong hoạt động chính trị, văn hóa và ngoại giao. Nam Việt Vương Đinh Liễn cũng để lại những tràng kinh Phật bằng đá tại Hoa Lư, phản ánh vai trò của Phật giáo trong môi trường cung đình thế kỷ X. (Phật giáo Việt Nam) Về đối ngoại, Đinh Tiên Hoàng theo đuổi một chính sách đáng chú ý: khẳng định đế hiệu và chủ quyền trong nước nhưng mềm dẻo trong quan hệ với nhà Tống. Năm 970, triều đình bắt đầu cử sứ sang Tống giao hảo; năm 972 Đinh Liễn được cử sang triều cống và sau đó nhận phong của Tống. Nhà Tống phong Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ Quận Vương, trong khi Đinh Liễn được phong các chức danh như Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ và về sau Giao Chỉ Quận Vương. Các đoàn sứ tiếp tục được trao đổi vào các năm 975, 977 và những năm khác. Cách ứng xử này tạo nên mô hình ngoại giao đặc trưng của các triều đại Việt Nam trung đại về sau: bên trong xưng Hoàng đế và duy trì quốc hiệu, niên hiệu độc lập; đối ngoại với Trung Hoa chấp nhận một số tước phong trong hệ thống bang giao để duy trì hòa bình. Nguồn chính thống Ninh Bình nhận định trong suốt thời Đinh, quan hệ với Tống nhìn chung hòa hiếu và chưa xảy ra xung đột quân sự. (Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Ninh Bình) Về gia đình và kế vị, đây là phần gây hậu quả nghiêm trọng nhất vào cuối đời vua. Năm 969, con trưởng Đinh Liễn, người đã cùng cha trải qua quá trình thống nhất, được phong Nam Việt Vương. Tuy nhiên năm 978, Đinh Tiên Hoàng bất ngờ lập người con nhỏ Đinh Hạng Lang làm Hoàng thái tử và phong Đinh Toàn làm Vệ Vương. Điều này làm Đinh Liễn, vốn có công lao lớn và trước đó được xem là người có khả năng kế vị, bất mãn. Mùa xuân năm 979, Đinh Liễn sai người giết Hạng Lang. Đây không chỉ là bi kịch gia đình mà còn gây khủng hoảng nghiêm trọng trong cơ chế kế vị của vương triều mới thành lập. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nhấn mạnh chính quyết định “bỏ trưởng lập ấu” là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến xung đột trong hoàng tộc. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Mùa đông, tháng Mười năm Kỷ Mão 979, theo Đại Việt sử ký toàn thư, viên quan nội nhân Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn trong cung. Sử truyền thống kể Đỗ Thích từng mộng nuốt sao và tưởng mình có số làm vua; đây là lời giải thích mang màu sắc điềm báo của sử học trung đại và không thể kiểm chứng độc lập. Một số nghiên cứu và giả thuyết hậu thế từng nghi ngờ việc Đỗ Thích có phải chủ mưu thực sự hay không, nhưng nguồn chính sử cổ hiện có vẫn xác định Đỗ Thích là người giết vua, do đó chúng ta nên lấy đó làm thông tin chính và chỉ ghi nhận các giả thuyết khác như tranh luận sử học nếu cần. (Nghiên Cứu Lịch Sử) Sau khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn chết, Đinh Toàn còn nhỏ được đưa lên ngôi, mở ra cuộc khủng hoảng quyền lực với Lê Hoàn nắm thực quyền quân sự; đến năm 980, trước nguy cơ nhà Tống xâm lược, Lê Hoàn được tôn lên ngôi, kết thúc nhà Đinh và mở đầu nhà Tiền Lê. Đinh Tiên Hoàng được sử chép ở ngôi 12 năm, thọ 56 tuổi, táng tại sơn lăng Trường Yên, truyền thống xác định lăng trên núi Mã Yên trong khu vực cố đô Hoa Lư. (Anyflip) Về đánh giá lịch sử, vai trò quan trọng nhất của Đinh Tiên Hoàng nằm ở việc chấm dứt cục diện phân liệt sau nhà Ngô, thống nhất quyền lực, xưng Hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, xây dựng kinh đô Hoa Lư, thiết lập phẩm trật quan lại–quân đội, tạo tiền tệ riêng và mở quan hệ ngoại giao ổn định với nhà Tống. Sử gia Lê Văn Hưu đặc biệt đề cao công lao “mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng đế, đặt trăm quan”; Lê Tung sau này nhận xét chính thống của nhà nước quân chủ Việt bắt đầu rõ rệt từ thời Đinh. Tuy vậy, chính sử cũng phê phán việc tổ chức hậu cung nhiều hoàng hậu, chính sách hình pháp khắc nghiệt và đặc biệt là quyết định kế vị đã gây chia rẽ trong hoàng tộc. Vì vậy, Đinh Tiên Hoàng nên được mô tả không chỉ như người “dẹp loạn 12 sứ quân”, mà là người sáng lập một thiết chế nhà nước quân chủ độc lập mới sau nhiều thế kỷ chuyển tiếp khỏi Bắc thuộc, đồng thời triều đại của ông vẫn mang những hạn chế của một chính quyền mới hình thành và phụ thuộc nhiều vào cá nhân người sáng lập. (vnexpress.net)
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Tiên Hoàng
Niên hiệu
Thái Bình (970–979)
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Địa điểm
Hoa Lư, châu Đại Hoàng – kinh đô Hoa Lư, Đại Cồ Việt; Bố Hải Khẩu; các địa bàn 12 sứ quân
Nguồn
Nguồn sử liệu: Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển I, Kỷ nhà Đinh, bản dịch Viện KHXH Việt Nam/NXB KHXH; Ngô Thì Sĩ – Ngô Thì Nhậm, Đại Việt sử ký tiền biên; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Nguồn chính thống/nghiên cứu: Đề cương kỷ niệm Nhà nước Đại Cồ Việt – tỉnh Ninh Bình: https://phobiengiaoducphapluat.ninhbinh.gov.vn/public/userfiles/hướng_dẫn_nghiệp_vụ/2023/HD_tuyên_truyền_kỷ_niệm_NN_đại_cồ_việt.pdf ; Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, “Đinh Tiên Hoàng (968–979)”: https://scov.gov.vn/dat-nuoc-con-nguoi/con-nguoi-viet-nam/dinh-tien-hoang-968-979-.html ; “Nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh (968–980)”, Ninh Bình: https://hoilienhiepphunutinh.ninhbinh.gov.vn/tin-tuc-su-kien/nha-nuoc-dai-co-viet-thoi-dinh-968-980-385.html ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Ghi chú về tiền Thái Bình hưng bảo”: https://baotanglichsuquocgia.vn/vi/Articles/3096/4804/ghi-chu-ve-tien-thai-binh-hung-bao.html ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Án xưa: Nam Việt Vương Đinh Liễn giết Thái tử Hạng Lang”: https://baotanglichsuquocgia.vn/vi/Articles/2001/65317/an-xua-nam-viet-vuong-djinh-lien-giet-thai-tu-hang-lang.html
Trạng thái
Đã đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
969
1. Đinh
Thiết lập triều đình và hệ thống quan chức
Đinh Tiên Hoàng xây dựng cung điện, định phẩm hàm quan văn võ và tổ chức bộ máy trung ương, đặt nền móng cho nhà nước quân chủ độc lập sau thời kỳ phân liệt.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Tiên Hoàng
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
972–973
1. Đinh
Thiết lập quan hệ bang giao với nhà Tống
Đại Cồ Việt chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tống, mở đầu quá trình bang giao chính thức giữa hai nước dưới triều Đinh.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Tiên Hoàng
Niên hiệu
Thái Bình
Loại sự kiện
Ngoại giao
Địa điểm
Hoa Lư - Tống
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
974–1028
1. Đinh
Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn
Lý Công Uẩn sinh năm 974, quê vùng Cổ Pháp, Bắc Ninh, lớn lên trong môi trường Phật giáo và từng theo học tại các cơ sở chùa. Dưới triều Tiền Lê, ông làm quan võ và dần giữ vị trí cao trong cấm quân. Khi Lê Long Đĩnh mất năm 1009, với sự vận động của Đào Cam Mộc cùng ảnh hưởng của giới tăng sĩ, đặc biệt truyền thống gắn với Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên ngôi, mở đầu nhà Lý. Năm 1010, ông ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, tạo trung tâm chính trị lâu dài của quốc gia. Trong thời gian trị vì ông củng cố bộ máy nhà nước, tổ chức lại hành chính và chú trọng Phật giáo. Lý Thái Tổ mất năm 1028; ngày húy theo lịch truyền thống là mồng 3 tháng Ba. Quốc hiệu Đại Cồ Việt vẫn được sử dụng đến năm 1054
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Tiên Hoàng
Niên hiệu
Thuận Thiên
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Chính trị; Hành chính; Văn hóa
Địa điểm
Cổ Pháp; Hoa Lư; Thăng Long
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Trung tâm Hoàng thành Thăng Long. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
979
1. Đinh
Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại
Đinh Tiên Hoàng và con trưởng Đinh Liễn bị sát hại. Đinh Toàn, con còn nhỏ, lên ngôi, tạo ra một cuộc khủng hoảng kế vị nghiêm trọng. Chính sử ghi Đỗ Thích là thủ phạm, nhưng động cơ và toàn bộ diễn biến vẫn là vấn đề còn được tranh luận.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Tiên Hoàng
Niên hiệu
Thái Bình
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
979–980
1. Đinh
Thời Phế Đế Đinh Toàn
Con trai của Đinh Tiên Hoàng
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Phế Đế
Tên nước
Đại Cồ Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
979–980
1. Đinh
Lê Hoàn nhiếp chính và khủng hoảng chuyển giao quyền lực
Đinh Toàn lên ngôi khi còn nhỏ, Lê Hoàn giữ quyền nhiếp chính. Một số đại thần như Đinh Điền, Nguyễn Bặc chống lại Lê Hoàn và bị đánh bại. Trong lúc đó, nhà Tống chuẩn bị đưa quân sang xâm lược.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
1. Đinh
Vương triều
1. Đinh
Người trị vì
Đinh Toàn / Lê Hoàn
Niên hiệu
—
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Hoa Lư
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
Dữ liệu từ bảng công khai của Lazi Voyage; được lưu cùng website để tra cứu ổn định.