Tra cứu các giai đoạn, nhân vật, sự kiện và nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam.
687 sự kiện · Trang 19 / 35
1854–1856
6. Nguyễn
Khởi nghĩa Mỹ Lương gắn với Cao Bá Quát
Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương bùng nổ năm 1854, với Lê Duy Cự làm minh chủ. Cao Bá Quát tử trận năm 1855; các lực lượng còn lại tiếp tục hoạt động đến năm 1856.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
6. Nguyễn
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Xã hội; Quân sự
Địa điểm
Mỹ Lương; Quốc Oai; Sơn Tây và các địa bàn Bắc Bộ
Nguồn
S23; S24
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1858–1859
Thời thuộc địa Pháp
Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng
Ngày 01/09/1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Quân Pháp bị cầm chân tại Đà Nẵng trong nhiều tháng trước khi chuyển hướng vào Nam.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại xâm / Quân sự
Địa điểm
Đà Nẵng
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1858–1913
Thời thuộc địa Pháp
Hoàng Hoa Thám
Hoàng Hoa Thám, thường gọi Đề Thám, là thủ lĩnh tiêu biểu nhất của khởi nghĩa Yên Thế. Nhiều tài liệu phổ thông ghi ông sinh năm 1858, quê gốc Dị Chế, Hưng Yên; tuy nhiên chuyên khảo của sử gia Khổng Đức Thiêm công bố từ nguồn sử liệu mới đề xuất các vấn đề khác về họ gốc và thậm chí niên đại sinh, vì vậy trường năm sinh nên được đánh dấu còn tranh luận. Ông tham gia các lực lượng chống Pháp ở vùng Bắc Giang từ thập niên 1880 rồi trở thành thủ lĩnh chính của phong trào Yên Thế, xây dựng căn cứ, tổ chức chiến tranh du kích, nhiều lần vừa chiến đấu vừa thương lượng với Pháp. Phong trào tồn tại qua nhiều giai đoạn, có lúc liên hệ với các nhà yêu nước đầu thế kỷ XX và tham gia những hoạt động chống Pháp rộng hơn. Sau các chiến dịch đàn áp lớn từ 1909, lực lượng suy yếu; Hoàng Hoa Thám bị sát hại năm 1913, đánh dấu sự chấm dứt cơ bản của khởi nghĩa Yên Thế.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức; Đồng Khánh; Thành Thái; Duy Tân
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự; Chính trị
Địa điểm
Yên Thế, Bắc Giang; Hưng Yên
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Khổng Đức Thiêm, Hoàng Hoa Thám, NXB Tri Thức, 2014. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1859
Thời thuộc địa Pháp
Pháp tấn công Gia Định
18/02/1859, sau khi không đạt mục tiêu tại Đà Nẵng, Pháp chuyển hướng vào Nam và tấn công Gia Định. Việc chiếm Gia Định tạo bàn đạp quan trọng cho quá trình chinh phục Nam Kỳ.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Gia Định
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1861
Thời thuộc địa Pháp
Pháp chiếm Mỹ Tho và mở rộng kiểm soát Nam Kỳ
Sau khi củng cố Gia Định, quân Pháp tiếp tục mở rộng chiến tranh, chiếm các vị trí chiến lược tại Nam Kỳ.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Mỹ Tho - Nam Kỳ
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1861–1868
Thời thuộc địa Pháp
Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực lãnh đạo lực lượng kháng Pháp với các chiến công như đốt tàu L’Espérance trên sông Nhật Tảo và đánh chiếm đồn Rạch Giá năm 1868. Ông bị bắt và xử tử tháng 10/1868.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Loại sự kiện
Kháng chiến
Địa điểm
Nam Kỳ
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1862
Thời thuộc địa Pháp
Hòa ước Nhâm Tuất (Treaty of Saigon 1862)
Hòa ước Nhâm Tuất được ký tại Sài Gòn ngày 05/06/1862, sau các chiến dịch quân sự của liên quân Pháp–Tây Ban Nha tại Đà Nẵng và Nam Kỳ. Đại diện triều Nguyễn là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp; phía Pháp do Đô đốc Louis-Adolphe Bonard, phía Tây Ban Nha do Carlos Palanca Gutiérrez đại diện. Hòa ước gồm 12 điều. Triều Nguyễn nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cùng đảo Côn Lôn; chấp nhận quyền tự do truyền giáo đối với Công giáo; mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho thương mại; cho phép tàu Pháp đi lại trên sông Mekong và các nhánh; đồng thời cam kết không nhượng lãnh thổ cho nước khác nếu không có sự đồng ý của Pháp. Triều đình còn phải bồi thường chiến phí 4 triệu đô la cho Pháp và Tây Ban Nha trong thời hạn quy định. Quân Pháp tiếp tục giữ Vĩnh Long cho đến khi các hoạt động kháng Pháp tại những vùng đã nhượng chấm dứt theo yêu cầu của Pháp. Hiệp ước được phê chuẩn và trao đổi văn kiện năm 1863. Đây là văn kiện pháp lý đầu tiên buộc triều Nguyễn chính thức nhượng lãnh thổ cho Pháp, tạo tiền đề cho quá trình mở rộng quyền kiểm soát thuộc địa của Pháp tại Việt Nam.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại giao; Lãnh thổ; Chính trị
Địa điểm
Sài Gòn
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3097/14430/ho...
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1863
Thời thuộc địa Pháp
Campuchia trở thành xứ bảo hộ của Pháp
Pháp thiết lập chế độ bảo hộ tại Campuchia, tạo tiền đề cho cấu trúc Đông Dương thuộc Pháp sau này.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Diplomacy
Địa điểm
Campuchia
Nguồn
French Ministry of Defence
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1863–1867
Thời thuộc địa Pháp
Pháp / Vĩnh Long
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Ngoại giao / Lãnh thổ
Loại sự kiện
Phan Thanh Giản sang Pháp thương lượng chuộc lại Nam Kỳ
Địa điểm
Chánh sứ; Tổng đốc Vĩnh Long
Nguồn
Critical
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1867
Thời thuộc địa Pháp
Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, hoàn tất chiếm Nam kỳ lục tỉnh (trước đó đã chiếm: Biên Hoà - Gia Định - Định Tường)
Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Từ đây toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh nằm dưới quyền kiểm soát của Pháp.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Lãnh thổ / Quân sự
Địa điểm
Vĩnh Long - An Giang - Hà Tiên
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1867–1940
Thời thuộc địa Pháp
Phan Bội Châu (1867–1940)
Phan Bội Châu, tên lúc nhỏ Phan Văn San, hiệu Sào Nam, còn sử dụng nhiều bút hiệu khác, sinh ngày 26/12/1867 tại quê mẹ ở vùng Sa Nam, Nam Đàn, Nghệ An; sau đó về sống tại quê cha ở Đan Nhiệm. Ông lớn lên trong môi trường Nho học ở Nghệ An vào thời điểm phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX phát triển mạnh. Bước ngoặt quan trọng về học vấn đến năm 1900, khi ông đỗ Giải nguyên – thủ khoa kỳ thi Hương trường Nghệ An. Khác với nhiều nhà khoa bảng cùng thời, Phan Bội Châu không đi sâu vào con đường quan trường mà dành phần lớn cuộc đời cho hoạt động chống thực dân Pháp. Trong giai đoạn đầu, tư tưởng cứu nước của ông vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của mô hình quân chủ và truyền thống Cần Vương, nhưng đồng thời ngày càng tiếp nhận các “tân thư”, tư tưởng cải cách Trung Quốc, kinh nghiệm Minh Trị Duy Tân của Nhật Bản và những biến động chính trị quốc tế. Ngày 08/04/1904, Phan Bội Châu cùng Cường Để, Nguyễn Thành (Nguyễn Tiểu La), Đặng Thái Thân và hơn hai mươi đồng chí họp tại Nam Thịnh sơn trang ở Quảng Nam để thành lập Duy Tân Hội. Cường Để – hậu duệ hoàng tộc Nguyễn – được chọn làm hội chủ/minh chủ, còn Phan Bội Châu là nhân vật tổ chức và tư tưởng quan trọng nhất. Mục tiêu của hội là đánh đuổi Pháp, khôi phục độc lập và xây dựng một nhà nước Việt Nam mới; trong giai đoạn này phương án chính trị vẫn thiên về quân chủ lập hiến, kết hợp chuẩn bị bạo động với tìm kiếm ngoại viện. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Năm 1905, Phan Bội Châu ra nước ngoài tìm đường vận động. Sau khi tiếp xúc với các nhà cải cách và chính khách châu Á, ông đặt nhiều kỳ vọng vào Nhật Bản – quốc gia châu Á vừa hiện đại hóa thành công và đánh thắng Nga trong chiến tranh Nga–Nhật. Từ đó hình thành phong trào Đông Du, đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập quân sự, chính trị, khoa học và kỹ thuật với mục tiêu đào tạo nhân lực cho công cuộc giành độc lập. Nghiên cứu quốc tế xem năm 1905 là một bước ngoặt quan trọng của lịch sử giáo dục xuyên quốc gia Việt Nam; học sinh từ cả Bắc, Trung và Nam Kỳ được đưa sang Nhật bằng mạng lưới qua Hồng Kông và Trung Quốc. Đến cao điểm có hơn 200 lưu học sinh Việt Nam tại Nhật. Phong trào không chỉ là một chương trình du học mà là một bộ phận của chiến lược cách mạng: xây dựng thế hệ cán bộ mới, gây quỹ, vận động chính giới Nhật và thiết lập mạng lưới chống thực dân bên ngoài Đông Dương. (Cambridge) Trong thời gian này, Phan Bội Châu viết nhiều tác phẩm có tác động lớn tới phong trào yêu nước, tiêu biểu Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, các thư từ và văn bản vận động thanh niên; văn chương của ông trở thành một phương tiện trực tiếp để thức tỉnh ý thức dân tộc và kêu gọi hành động. Những tác phẩm này cho thấy quan niệm quốc gia của ông cũng đang thay đổi: từ trung quân và khôi phục vương triều tiến dần tới khái niệm dân tộc, quốc dân và chủ quyền quốc gia. Nghiên cứu gần đây về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX nhấn mạnh ở Phan Bội Châu vừa tồn tại cảm xúc mạnh về “hồn nước” và truyền thống lịch sử, vừa có sự tiếp nhận tư tưởng chính trị toàn cầu mới. (Cambridge) Phong trào Đông Du bị đẩy vào khủng hoảng khi Pháp gây sức ép ngoại giao lên Nhật. Từ năm 1908, chính quyền Nhật buộc lưu học sinh Việt Nam rời khỏi nước này; đến tháng 03/1909, Phan Bội Châu và Cường Để cũng bị trục xuất. Duy Tân Hội trong nước đồng thời bị đàn áp nặng sau các phong trào chống thuế. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Thất bại Đông Du khiến tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu tiếp tục chuyển biến. Cách mạng Tân Hợi 1911 và sự thành lập Trung Hoa Dân Quốc có ảnh hưởng rất lớn: năm 1912 tại Quảng Đông, Duy Tân Hội được giải thể và Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập với tôn chỉ đánh đuổi Pháp và xây dựng một nước cộng hòa dân quốc Việt Nam. Đây là sự thay đổi quan trọng từ mục tiêu quân chủ sang cộng hòa. Việt Nam Quang Phục Hội tổ chức các cơ sở ở trong và ngoài nước, tìm cách gây dựng lực lượng quân sự, vận động binh lính, tổ chức ám sát và các hoạt động vũ trang chống chính quyền thuộc địa. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Trong những năm hoạt động ở Trung Quốc, Phan Bội Châu nhiều lần bị bắt, giam giữ và phải thay đổi địa bàn hoạt động; mạng lưới cách mạng của ông chịu tác động mạnh của tình hình chính trị Trung Quốc và quan hệ giữa các thế lực châu Á. Tuy vậy, ông vẫn tiếp tục viết sách, vận động tài chính, xây dựng tổ chức và tìm kiếm một mô hình mới cho phong trào Việt Nam. Nghiên cứu của giới sử học quốc tế coi ông là một nhà cách mạng châu Á hoạt động trong một thế giới chính trị đang thay đổi, không chỉ là một nhân vật trong phạm vi lịch sử Việt Nam; quan hệ của ông với Nhật Bản, Trung Quốc và các mạng lưới Á châu là thành phần cốt lõi trong sự hình thành chủ nghĩa dân tộc Việt Nam hiện đại. (Cambridge) Đến đầu thập niên 1920, Phan Bội Châu tiếp tục tìm cách cải tổ tổ chức và tiếp xúc với các trào lưu cách mạng mới. Đây cũng là thời điểm thế hệ cách mạng trẻ hơn, trong đó có Nguyễn Ái Quốc và những người tiếp nhận chủ nghĩa Marx–Lenin, bắt đầu tạo ra những mô hình tổ chức khác với thế hệ Phan Bội Châu. Ngày 30/06/1925, ông bị bắt tại Thượng Hải, đưa bí mật về Đông Dương, giam ở Hỏa Lò và xét xử tại Hà Nội. Việc Pháp đưa Phan Bội Châu ra xét xử tạo nên một phong trào quần chúng rộng lớn đòi ân xá, đặc biệt trong giới học sinh, trí thức và thanh niên. Án nặng đối với ông cuối cùng không được thi hành; ông được ân xá nhưng phải chịu chế độ an trí tại Bến Ngự, Huế. Hồ sơ Nhà tù Hỏa Lò xác nhận thời gian bị bắt ngày 30/06/1925 và giam tại Hỏa Lò từ khoảng tháng 7 đến tháng 11/1925. (Di tích Lịch sử Nhà tù Hoả Lò) Từ cuối năm 1925 đến khi mất, Phan Bội Châu sống dưới sự giám sát của chính quyền Pháp tại Huế. Đây thường được gọi là thời kỳ “Ông già Bến Ngự”. Dù không còn có khả năng trực tiếp tổ chức các phong trào như trước, ông vẫn viết văn, làm thơ, tiếp xúc với thanh niên, bình luận thời cuộc và tiếp tục có ảnh hưởng tinh thần đối với phong trào yêu nước. Trong thời gian này ông biên soạn hoặc hoàn thiện các tác phẩm tự thuật quan trọng, đặc biệt Phan Bội Châu niên biểu. Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu các bản viết của tác phẩm này và đánh giá đây là nguồn đặc biệt quan trọng về cuộc đời và hoạt động cách mạng của ông. Tuy nhiên, nghiên cứu văn bản học của Chương Thâu chỉ ra rằng giữa Phan Bội Châu niên biểu và các tác phẩm tự thuật khác như Ngục trung thư, Dư ngu sám có những chi tiết sai biệt; do đó hồi ký của chính Phan Bội Châu phải được đối chiếu với tài liệu khác chứ không sử dụng như một nguồn tuyệt đối. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Phan Bội Châu mất vào sáng 29/10/1940 tại căn nhà tranh ở dốc Bến Ngự, Huế. (Du Lịch Nam Đàn) Xét về lịch sử tư tưởng và phong trào dân tộc, vị trí của ông không chỉ nằm ở những tổ chức cụ thể đã thất bại. Ông đã góp phần chuyển phong trào yêu nước Việt Nam từ mô hình khởi nghĩa văn thân–Cần Vương của thế kỷ XIX sang hình thức tổ chức chính trị hiện đại, hoạt động xuyên quốc gia, đào tạo thanh niên, tuyên truyền bằng báo chí–sách vở và tìm kiếm một thiết chế nhà nước mới. Tư tưởng của ông cũng không bất biến: từ quân chủ, cầu viện Nhật và bạo động, ông chuyển dần sang chủ nghĩa cộng hòa và tìm kiếm những mô hình tổ chức rộng hơn. Chính quá trình chuyển đổi đó khiến Phan Bội Châu trở thành một nhân vật trung gian đặc biệt giữa thế hệ sĩ phu Nho học chống Pháp và các phong trào cách mạng hiện đại của Việt Nam trong thập niên 1920–1930.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức; Đồng Khánh; Thành Thái; Duy Tân; Khải Định; Bảo Đại
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Chính trị; Ngoại giao; Giáo dục; Văn hóa; Văn học; Quân sự
Địa điểm
Nam Đàn, Nghệ An; Quảng Nam; Hà Nội; Nhật Bản; Hồng Kông; Quảng Đông; Thượng Hải; Xiêm/Thái Lan; Huế – Bến Ngự
Ngày bắt đầu
26/12/1867
Ngày kết thúc
29/10/1940
Nguồn
Nguồn sơ cấp/tự thuật: Phan Bội Châu niên biểu – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, https://hannom.vass.gov.vn/?cid=61496&pageid=46955&sachid=5828 ; Chương Thâu, “Về tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu”, Tạp chí Hán Nôm 2/1987, https://hannom-en.vass.gov.vn/web/tchn/data/8702v.htm . Nguồn chính thống: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Duy Tân Hội…”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/68013/duy-tan-hoi-mot-to-chuc-chong-phap-nhung-nam-djau-the-ky-xx-o-viet-nam.html ; Khu lưu niệm Phan Bội Châu – Nghệ An, https://dulichnamdan.nghean.gov.vn/vi/nhatuongniemphanboichau ; Di tích Nhà tù Hỏa Lò, https://old.hoalo.vn/Articles/13/39/Ong-Phan-Boi-Chau.html . Nghiên cứu học thuật: Vĩnh Sinh và Masaya Shiraishi về Phan Bội Châu–Đông Du; Sara Legrandjacques, “Go East! 1905…”, TRaNS, Cambridge UP, 2020; các nghiên cứu về Phan Bội Châu và Nhật Bản trên Journal of Southeast Asian Studies.
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1872–1926
Thời thuộc địa Pháp
Phan Châu Trinh (1872–1926)
Phan Châu Trinh – cũng thường viết Phan Chu Trinh – tự Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh ngày 09/09/1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh. Cha ông là Phan Văn Bình, một võ quan ở sơn phòng Quảng Nam, sau tham gia Nghĩa hội/Cần Vương Quảng Nam và đảm nhiệm công việc quân lương. Trong những năm 1885–1887, Phan Châu Trinh còn thiếu niên đã theo cha vào căn cứ, học võ và trực tiếp chứng kiến phong trào chống Pháp bằng vũ trang. Sau khi cha chết trong hoàn cảnh xung đột nội bộ của nghĩa hội, ông trở về quê tiếp tục học Nho. Trải nghiệm sớm này là một yếu tố quan trọng để hiểu vì sao về sau ông đánh giá rất phê phán cả chế độ quân chủ lẫn phương thức khởi nghĩa vũ trang kiểu cũ. (Viện Phan Châu Trinh) Năm 1900, ông đỗ Cử nhân; năm 1901 đỗ Phó bảng. Đây là thành tích cao trong hệ thống khoa cử triều Nguyễn và về lý thuyết mở ra con đường quan trường. Năm 1903, ông được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế. Tuy nhiên, thời gian làm quan tương đối ngắn. Việc tiếp xúc với “tân thư”, tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, kinh nghiệm Nhật Bản và tư tưởng chính trị phương Tây khiến ông ngày càng cho rằng khủng hoảng Việt Nam không chỉ do sự xâm lược của Pháp, mà còn do chế độ chuyên chế, nền giáo dục khoa cử trì trệ, dân trí thấp và sự suy yếu của xã hội. Ông từ quan để hoạt động cải cách. (baochinhphu.vn) Đây là điểm làm Phan Châu Trinh khác rất rõ với Phan Bội Châu. Hai người đều đặt vấn đề cứu nước nhưng không thống nhất về trình tự và phương pháp. Phan Bội Châu đặt việc giành độc lập chính trị và đánh đuổi Pháp lên trước, chấp nhận bạo động và trong một thời gian tìm kiếm ngoại viện Nhật Bản. Phan Châu Trinh cho rằng nếu xã hội Việt Nam vẫn duy trì quân chủ chuyên chế, dân chúng không có kiến thức và ý thức về quyền công dân thì ngay cả giành lại độc lập cũng chưa đủ tạo ra một quốc gia tự do. Vì vậy ông nhấn mạnh “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cải cách giáo dục, phát triển kinh tế–thực nghiệp, thay đổi phong tục, xây dựng ý thức công dân và dân quyền. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác định đường lối này là con đường Khai sáng và Duy Tân khác căn bản với chủ trương bạo động của Phan Bội Châu. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Trong khoảng 1905–1908, cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và nhiều sĩ phu Quảng Nam, Phan Châu Trinh trở thành một trong những người khởi xướng và dẫn dắt phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Phong trào không chỉ hoạt động chính trị theo nghĩa hẹp mà hướng đến một cuộc cải tạo xã hội khá toàn diện: mở trường dạy Quốc ngữ, tiếng Pháp, kiến thức khoa học và thực nghiệp; vận động cắt tóc, thay đổi trang phục và phong tục; thành lập hội buôn, phát triển sản xuất và thương nghiệp; tổ chức diễn thuyết công cộng; phổ biến tư tưởng dân quyền và phê phán quan trường, khoa cử cũ. Các nghiên cứu kinh tế–xã hội về phong trào Duy Tân nhấn mạnh khái niệm “hậu dân sinh” không chỉ là khẩu hiệu mà được thể hiện bằng việc lập hội buôn, khuyến khích sản xuất và xây dựng khả năng tự chủ kinh tế của người Việt. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Về phương pháp, Phan Châu Trinh phản đối cả bạo động khi dân chưa đủ năng lực chính trị lẫn việc cầu ngoại viện Nhật Bản. Ông từng sử dụng ý tưởng thường được tóm tắt là “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, nhưng cần hiểu đúng: điều này không đồng nghĩa với chấp nhận vĩnh viễn chế độ thuộc địa. Ông muốn lợi dụng những nguyên tắc pháp quyền, giáo dục và dân chủ mà nước Pháp tuyên bố để buộc chính quyền thuộc địa cải cách và tạo không gian nâng cao dân trí, từ đó người Việt tự xây dựng sức mạnh xã hội. Đồng thời ông liên tục công kích sự đàn áp, phân biệt chủng tộc và tính bất nhất giữa lý tưởng cộng hòa Pháp với thực tế thực dân. Nghiên cứu chính trị học hiện đại coi ông là một trường hợp đặc sắc của “Democratic Confucianism” – Nho giáo dân chủ, bởi ông không đơn giản từ bỏ Nho giáo để Tây hóa, mà tìm cách kết hợp đạo đức Nho học với tự do, pháp quyền và dân chủ phương Tây. (Cambridge) Năm 1906–1907, ông gửi các bản điều trần và thư cho chính quyền Pháp, phê phán bộ máy quan lại và chính sách thuộc địa, đồng thời yêu cầu cải cách giáo dục và hành chính. Phong trào Duy Tân lan rộng và đến năm 1908 gắn với làn sóng chống sưu, chống thuế ở Trung Kỳ. Mặc dù Phan Châu Trinh không chủ trương biến phong trào thành bạo động vũ trang, chính quyền thực dân coi mạng lưới Duy Tân là một mối đe dọa. Ông bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Nhờ sự vận động của giới nhân quyền và trí thức Pháp, năm 1911 ông được trả tự do với điều kiện sang Pháp. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Phan Châu Trinh sống tại Pháp khoảng 14 năm, từ 1911 đến 1925. Đây là giai đoạn rất quan trọng trong sự phát triển tư tưởng của ông. Ông phải lao động để sinh sống, trong đó có nghề sửa ảnh, nhưng đồng thời tiếp tục viết bài, diễn thuyết, gửi kiến nghị và vận động chính giới Pháp về vấn đề Đông Dương. Ông hoạt động trong mạng lưới người Việt yêu nước ở Paris cùng Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền và những nhân vật khác, dù quan điểm của từng người không hoàn toàn giống nhau. Ông sử dụng chính ngôn ngữ về dân quyền, cộng hòa và pháp trị của Pháp để chất vấn chế độ thuộc địa: nếu các nguyên tắc ấy có giá trị phổ quát thì người Việt cũng phải được hưởng quyền con người và quyền chính trị. Nghiên cứu hiện đại nhấn mạnh rằng ông đồng thời nhận thức khá rõ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và tính đàn áp của nhà nước thuộc địa, chứ không hề có cái nhìn đơn giản rằng thực dân Pháp tự nhiên sẽ “khai hóa” Việt Nam. (Cambridge) Năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp, Phan Châu Trinh công bố Thất điều thư, lên án nhà vua về bảy vấn đề mà ông coi là biểu hiện của quân chủ chuyên chế, xa hoa và phụ thuộc, qua đó thể hiện sự đoạn tuyệt rất rõ với tư tưởng “tôn quân”. Đây là một trong những khác biệt nền tảng giữa ông và nhiều nhà yêu nước Nho học thế hệ trước. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Năm 1925, sau nhiều năm xin trở về, ông được về Việt Nam và sống tại Sài Gòn. Dù sức khỏe đã yếu, cuối năm đó ông thực hiện những bài diễn thuyết quan trọng, đặc biệt Đạo đức và luân lý Đông Tây & Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa. Đây là những văn bản trưởng thành nhất về tư tưởng chính trị của ông. Ông giải thích cho công chúng Việt Nam về dân chủ đại nghị, phân quyền, trách nhiệm của nhà cầm quyền, quyền giám sát của dân và sự cần thiết xây dựng đạo đức công cộng. Nghiên cứu trên The Review of Politics cho thấy ông xem tự do và dân chủ không chỉ như kỹ thuật nhà nước, mà như phương tiện để tái tạo xã hội và đạo đức công dân; ông tin rằng một số giá trị Nho giáo chân chính có thể được phục hồi tốt hơn trong một chế độ pháp quyền dân chủ chứ không phải dưới quân chủ chuyên chế. (Cambridge) Phan Châu Trinh mất tại Sài Gòn ngày 24/03/1926. Cái chết của ông không chỉ là sự kiện cá nhân. Lễ tang và các lễ truy điệu Phan Châu Trinh trở thành một phong trào chính trị–xã hội trên quy mô toàn quốc, đặc biệt mạnh trong học sinh, thanh niên và trí thức. Các cuộc để tang, bãi khóa và truy điệu năm 1926 góp phần tạo môi trường chính trị mới cho một thế hệ trẻ đang tìm kiếm các con đường cách mạng khác nhau. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Về mặt sử học, không nên giản lược Phan Châu Trinh thành một người “cải lương thân Pháp”. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng lưu ý rằng cách đánh giá cũ thường quá máy móc khi cố xếp ông vào một lập trường giai cấp đơn giản. Nghiên cứu gần đây nhìn ông như một trong những người đầu tiên ở Việt Nam đặt vấn đề dân quyền, công dân, pháp trị, giáo dục thực học, xã hội dân sự và dân chủ một cách có hệ thống. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, đóng góp đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh là việc đổi câu hỏi từ “làm thế nào giành lại đất nước?” thành đồng thời “phải xây dựng loại người dân, xã hội và nhà nước nào để một nước độc lập thực sự có tự do?”. Đó cũng là lý do tư tưởng “khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh”, “tự lực khai hóa” và dân quyền của ông tiếp tục được nghiên cứu đến hiện nay; năm 2026, nhân 100 năm ngày mất, một hội thảo khoa học cấp quốc gia tiếp tục được tổ chức riêng về tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp của ông. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức; Đồng Khánh; Thành Thái; Duy Tân; Khải Định; Bảo Đại
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Chính trị; Giáo dục; Văn hóa; Xã hội; Kinh tế; Pháp luật; Tư tưởng
Địa điểm
Tây Lộc – Quảng Nam; Huế; Hà Nội; Côn Đảo; Paris và các địa điểm tại Pháp; Sài Gòn
Ngày bắt đầu
09/09/1872
Ngày kết thúc
24/03/1926
Nguồn
Nguồn chính thống: Cổng TTĐT Chính phủ/UBND Quảng Nam, Hội thảo 150 năm ngày sinh Phan Châu Trinh, https://baochinhphu.vn/quang-nam-to-chuc-hoi-thao-ve-nha-yeu-nuoc-phan-chau-trinh-10222090910065146.htm ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Phan Châu Trinh – đại diện tri thức Việt Nam đầu thế kỷ XX”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/66932/phan-chau-trinh-djai-dien-tri-thuc-viet-nam-djau-the-ky-xx.html ; “Phan Châu Trinh với tư tưởng canh tân đất nước”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/66923/phan-chau-trinh-voi-tu-tuong-canh-tan-djat-nuoc.html ; Viện Sử học, nghiên cứu về “khai dân trí”, https://viensuhoc.vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/tu-tuong-khai-dan-tri-cua-phan-chau-trinh-va-gia-tri-cua-tu-tuong-nay-doi-voi-giao-duc-viet-nam-hien-nay-576400 . Nguồn học thuật: Đỗ Thị Hòa Hới, Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, NXB KHXH, 1996; Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân; Kevin D. Pham, “Phan Chu Trinh's Democratic Confucianism”, The Review of Politics 81(4), 2019, pp. 597–620, DOI 10.1017/S0034670519000494.
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1873
Thời thuộc địa Pháp
Francis Garnier đánh chiếm Hà Nội, nhưng quân ta giành được chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất
Ngày 20/11/1873, Francis Garnier cùng quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, mở đầu lần Pháp chiếm đóng Hà Nội. Quân triều đình phối hợp với lực lượng Cờ Đen đánh quân Pháp tại Cầu Giấy, tiêu diệt Francis Garnier ngay tại chiến trường cầu giấy 21/12/1873. Sau đó Pháp buộc phải đàm phán với triều đình Huế.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Cầu Giấy, Hà Nội
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1874
Thời thuộc địa Pháp
Hòa ước Giáp Tuất (Treaty of Saigon 1874)
Hòa ước Giáp Tuất được ký tại Sài Gòn ngày 15/03/1874, sau cuộc khủng hoảng Bắc Kỳ năm 1873 khi Francis Garnier chiếm Hà Nội và một số tỉnh rồi tử trận. Phía Pháp do Đô đốc Marie Jules Dupré đại diện; phía triều Nguyễn có Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường. Hiệp ước gồm 22 điều và thay thế phần lớn khuôn khổ của Hòa ước 1862. Pháp tuyên bố công nhận chủ quyền và nền độc lập của vua An Nam đối với các cường quốc khác, nhưng đồng thời triều Nguyễn phải thừa nhận đầy đủ và vĩnh viễn chủ quyền của Pháp đối với toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh. Việt Nam bị ràng buộc ngày càng chặt về đối ngoại, không được tự do ký các thỏa thuận chính trị quan trọng với nước khác trái với lợi ích của Pháp. Hiệp ước tiếp tục bảo đảm quyền truyền giáo, mở rộng thương mại và quan hệ lãnh sự, đồng thời tạo cơ sở cho việc mở sông Hồng và một số cảng ở Bắc Kỳ cho thương mại quốc tế. Pháp rút các lực lượng vừa chiếm tại Bắc Kỳ nhưng đổi lại củng cố địa vị pháp lý ở Nam Kỳ và tăng mạnh ảnh hưởng đối với triều đình Huế.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại giao; Lãnh thổ; Chính trị
Địa điểm
Sài Gòn
Nguồn
Văn bản hiệp ước: https://mjp.univ-perp.fr/constit/vn1883.htm
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1874
Thời thuộc địa Pháp
Hiệp ước Thương mại Pháp–Đại Nam 1874
Hiệp ước Thương mại Pháp–Đại Nam được ký tại Sài Gòn ngày 31/08/1874 nhằm cụ thể hóa các điều khoản kinh tế của Hòa ước Giáp Tuất. Văn kiện quy định việc mở thêm các địa điểm của Đại Nam cho thương mại quốc tế, đáng chú ý gồm Quy Nhơn, Hải Phòng, Hà Nội và tuyến sông Hồng từ biển lên vùng giáp Trung Quốc. Hiệp ước quy định thủ tục tàu thuyền ra vào, thuế xuất nhập khẩu, phí cảng, hải quan, hoạt động của thương nhân nước ngoài và quyền đặt cơ quan lãnh sự. Việc mở sông Hồng có ý nghĩa đặc biệt đối với Pháp vì nước này kỳ vọng sử dụng tuyến đường đó để tiếp cận thị trường Vân Nam và miền nam Trung Quốc. Một quy ước phụ ngày 23/11/1874 tiếp tục chi tiết hóa việc thi hành. Hệ thống văn kiện thương mại năm 1874 làm tăng đáng kể sự hiện diện kinh tế, lãnh sự và hành chính của Pháp tại Bắc Kỳ. Các thỏa thuận năm 1874 về sau bị Hòa ước Patenôtre năm 1884 thay thế.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại giao; Kinh tế
Địa điểm
Sài Gòn
Nguồn
Tuyển tập hiệp ước Pháp ở Viễn Đông: https://fr.wikisource.org/wiki/Livre%3AR...
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1875–1898
Thời thuộc địa Pháp
Nhà thờ Phát Diệm
Quần thể Nhà thờ Phát Diệm được xây dựng từ 1875 đến 1898 dưới sự chỉ đạo của linh mục Phêrô Trần Lục. Công trình kết hợp chức năng và biểu tượng Công giáo với hình thức kiến trúc truyền thống Việt Nam, sử dụng nhiều gỗ lim, đá và các cấu trúc gợi liên tưởng đến đình, chùa. Quần thể gồm nhà thờ lớn, Phương Đình, nhà thờ đá, các nhà thờ nhỏ, ao hồ và hang đá.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức; Thành Thái
Niên hiệu
Tự Đức; Thành Thái
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Tôn giáo; Kiến trúc; Văn hóa
Địa điểm
Kim Sơn, Ninh Bình
Nguồn
Sở Du lịch Ninh Bình; UBND xã Phát Diệm (Sở Du Lịch Ninh Bình)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1882
Thời thuộc địa Pháp
Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai
Henri Rivière đưa quân ra Bắc và ngày 25/04/1882 đánh chiếm thành Hà Nội, mở đầu giai đoạn quyết định của quá trình Pháp áp đặt quyền kiểm soát Bắc Kỳ.. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết sau khi thành thất thủ.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Loại sự kiện
Ngoại xâm / Quân sự
Địa điểm
Hà Nội
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1883
Thời thuộc địa Pháp
Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai và cái chết của Henri Rivière
Ngày 19/5/1883, lực lượng Cờ Đen và quân Việt phục kích quân Pháp tại Cầu Giấy, Henri Rivière bị giết. Tuy nhiên Pháp tiếp tục tăng cường chiến tranh.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức
Niên hiệu
Tự Đức
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Cầu Giấy, Hà Nội
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1883
Thời thuộc địa Pháp
Tự Đức qua đời, khủng hoảng kế vị
Tự Đức mất tháng 7/1883. Sau đó triều đình trải qua hàng loạt biến động và thay đổi vua trong thời gian rất ngắn, trong bối cảnh Pháp đang gia tăng áp lực quân sự.
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Tự Đức / Dục Đức / Hiệp Hòa
Niên hiệu
Tự Đức / Dục Đức / Hiệp Hòa
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Huế
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
1883
Thời thuộc địa Pháp
Thời Dục Đức
Nguyễn Phúc Ưng Chân không phải con ruột của Tự Đức; là con của Nguyễn Phúc Hồng Y (Thụy Thái vương), được Tự Đức nhận làm con nuôi và chọn kế vị. Tại vị 3 ngày
Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Dục Đức
Niên hiệu
Dục Đức
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn
Dữ liệu từ bảng công khai của Lazi Voyage; được lưu cùng website để tra cứu ổn định.