Du lịch · Ẩm thực · Văn hoá Việt Nam
LaziVoyage
Menu

Dòng chảy lịch sử

Sử Việt qua những dấu mốc

Tra cứu các giai đoạn, nhân vật, sự kiện và nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam.

687 sự kiện · Trang 20 / 35

1883

Thời thuộc địa Pháp

Thời Hiệp Hoà

Nguyễn Phúc Hồng Dật là em trai của Tự Đức, con của Thiệu Trị; vì Dục Đức bị phế nên được đưa lên ngôi

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hiệp Hòa
Niên hiệu
Hiệp Hòa
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1883

Thời thuộc địa Pháp

Pháp tấn công Thuận An

Pháp đánh cửa biển Thuận An, buộc triều đình Huế phải chấp nhận điều kiện của Pháp.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hiệp Hòa
Niên hiệu
Hiệp Hòa
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Huế
Nguồn
French Ministry of Defence
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1883–1884

Thời thuộc địa Pháp

Thời Kiến Phúc

Nguyễn Phúc Ưng Đăng là con ruột của Kiên Thái vương Hồng Cai, em của Tự Đức; được Tự Đức nhận làm con nuôi. Vì vậy ông vừa là cháu ruột Tự Đức, vừa là con nuôi Tự Đức

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Kiến Phúc
Niên hiệu
Kiến Phúc
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1883–1953

Cách mạng tháng Tám

Trần Trọng Kim (1883–1953)

Trần Trọng Kim, bút hiệu Lệ Thần, là nhà giáo dục, học giả, nhà nghiên cứu lịch sử, Nho giáo, Phật giáo và là người đứng đầu Nội các Đế quốc Việt Nam năm 1945. Phần lớn tài liệu tiểu sử ghi ông sinh năm 1883 tại làng Kiều Lĩnh, xã Đan Phổ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh trong một gia đình Nho học; cha ông là Trần Bá Huân, người được một số nguồn ghi nhận từng tham gia phong trào Cần Vương ở Nghệ–Tĩnh. Thuở nhỏ ông học chữ Hán, sau học hệ Pháp–Việt và Trường Thông ngôn; đầu thế kỷ XX sang Pháp học, sau theo học Trường Sư phạm Melun, tốt nghiệp năm 1911 rồi trở về Đông Dương làm nghề giáo. Ông từng giảng dạy tại Trường Trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường Nam Sư phạm, sau đó đảm nhiệm các chức vụ trong ngành giáo dục Bắc Kỳ như thanh tra tiểu học và tham gia công việc biên soạn sách giáo khoa. Ông còn tham gia Hội Khai trí Tiến Đức, hoạt động nghiên cứu Phật học và nhiều tổ chức văn hóa–giáo dục đương thời. Trong tư cách học giả, Trần Trọng Kim có ảnh hưởng đáng kể đến giáo dục và nghiên cứu văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Việt Nam sử lược, một trong những bộ thông sử Việt Nam viết bằng chữ Quốc ngữ có ảnh hưởng rộng trong thế kỷ XX; ngoài ra ông còn biên soạn hoặc tham gia biên soạn các công trình như Nho giáo, các sách về Phật giáo, Việt Nam văn phạm và nhiều bộ sách giáo khoa, luân lý, quốc văn dành cho nhà trường. Khoảng 1942–1943, ông nghỉ công việc giáo dục. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai và sự cạnh tranh Pháp–Nhật tại Đông Dương, ông bị chính quyền thuộc địa Pháp chú ý vì các mối quan hệ với người Nhật. Cuối năm 1943, phía Nhật đưa ông cùng Dương Bá Trạc rời Hà Nội, sau đó sang Singapore; bản thân Trần Trọng Kim kể lại giai đoạn này trong hồi ký Một cơn gió bụi. Sau cuộc Nhật đảo chính Pháp ngày 09/03/1945, Bảo Đại tuyên bố bãi bỏ quan hệ bảo hộ với Pháp và công bố nền độc lập ngày 11/03. Trần Trọng Kim được đưa về nước và đến Huế đầu tháng 04/1945. Ngày 17/04/1945, Bảo Đại phê chuẩn Nội các do ông đứng đầu với chức danh Nội các Tổng trưởng, tương đương người đứng đầu chính phủ. Chính phủ này tồn tại trong khuôn khổ Đế quốc Việt Nam, trong khi quyền lực quân sự tối cao trên thực tế vẫn nằm trong tay quân đội Nhật. Thành phần nội các chủ yếu là trí thức và chuyên gia như Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương. Trong hơn bốn tháng tồn tại, nội các tiến hành một số biện pháp Việt hóa bộ máy nhà nước: sử dụng tiếng Việt rộng hơn trong hành chính; cải tổ chương trình giáo dục và đưa tiếng Việt thành ngôn ngữ giảng dạy quan trọng; thay đổi nhiều tên đường và địa danh mang dấu ấn Pháp; xây dựng Bộ Thanh niên; chuẩn bị dự thảo hiến pháp; thương lượng với phía Nhật để tiếp nhận quyền quản lý Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và tiến hành các bước đưa Nam Bộ trở lại dưới quyền chính quyền trung ương về mặt danh nghĩa. Tuy nhiên, nội các không có lực lượng quân sự độc lập đủ mạnh, phụ thuộc vào môi trường chính trị do Nhật kiểm soát và phải hoạt động giữa nạn đói 1945, sự suy sụp của Nhật Bản và sự phát triển nhanh chóng của phong trào Việt Minh. Đánh giá về bản chất Nội các Trần Trọng Kim là vấn đề còn có nhiều cách tiếp cận trong sử học: nhiều công trình chính thống Việt Nam xác định đây là một bộ phận của cấu trúc chính quyền do Nhật dựng lên sau đảo chính Pháp; trong khi một số nghiên cứu học thuật nhấn mạnh thêm thành phần trí thức, chương trình Việt hóa và những nỗ lực cải cách hành chính–giáo dục của nội các trong phạm vi quyền lực rất hạn chế. Vì vậy cần phân biệt giữa ý định và hoạt động của các trí thức trong nội các với cấu trúc quyền lực quân sự Nhật Bản bao trùm Đế quốc Việt Nam. Sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh ngày 15/08/1945, chính quyền Đế quốc Việt Nam nhanh chóng tan rã trước cao trào Cách mạng tháng Tám; phiên họp cuối cùng của Nội các Trần Trọng Kim diễn ra ngày 23/08/1945, và Bảo Đại thoái vị ngày 25/08. Sau năm 1945 Trần Trọng Kim rời Việt Nam một thời gian, sống tại Hồng Kông, Quảng Châu và sau đó trở lại Sài Gòn; ông không giữ một vai trò chính trị tương đương năm 1945 nữa. Những năm cuối đời ông sống tương đối lặng lẽ và mất tại Đà Lạt ngày 02/12/1953. Trần Trọng Kim vì vậy có hai vị trí lịch sử cần được tách biệt khi đánh giá: một mặt là học giả và nhà giáo dục có ảnh hưởng lớn đối với sử học, giáo dục và văn hóa Quốc ngữ đầu thế kỷ XX; mặt khác là người đứng đầu Nội các Đế quốc Việt Nam trong giai đoạn Nhật chiếm đóng và Cách mạng tháng Tám năm 1945, một vai trò chính trị vẫn là đối tượng của nhiều nghiên cứu và cách đánh giá khác nhau.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Cách mạng tháng Tám
Vương triều
Đế quốc Việt Nam
Người trị vì
Bảo Đại
Tên nước
Đế quốc Việt Nam
Loại sự kiện
Chính trị; Giáo dục; Văn hóa; Sử học
Địa điểm
Kiều Lĩnh/Đan Phổ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Hà Nội; Huế; Singapore; Sài Gòn; Đà Lạt
Ngày kết thúc
02/12/1953
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Sự thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, 1945”: https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3097/19449/su-thanh-lap-chinh-phu-tran-trong-kim-1945.html ; Phạm Hồng Tung, Nội các Trần Trọng Kim – Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, bản chỉnh lý 2025; giới thiệu tại https://nxbctqg.org.vn/noi-cac-tran-trong-kim-ban-chat-vai-tro-va-vi-tri-lich-su.html ; Vũ Ngự Chiêu, “The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March–August 1945)”, The Journal of Asian Studies, vol. 45, no. 2, 1986, pp. 293–328; https://doi.org/10.2307/2055845 ; Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi (Kiến văn lục), hồi ký viết về giai đoạn 1943–1949; Văn hóa Nghệ An, nghiên cứu về Trần Trọng Kim và vấn đề dị bản năm sinh: https://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/14906-hai-guong-mat-van-hoa-xu-nghe-dau-the-ky-xx ; Trần Văn Chánh, nghiên cứu về Trần Trọng Kim và Việt Nam sử lược: https://vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-giao-duc-khoa-hoc/2828-tran-van-chanh-tran-trong-kim-va-viet-nam-su-luoc.html
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1883

Thời thuộc địa Pháp

Hòa ước Harmand (Hòa ước Quý Mùi 1883)

Hòa ước Harmand được ký tại Huế ngày 25/08/1883, ngay sau khi quân Pháp đánh chiếm các pháo đài Thuận An, trực tiếp đe dọa kinh đô Huế. Phía Pháp do Jules Harmand đại diện; phía triều Nguyễn có Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp. Văn kiện gồm 27 điều và về danh nghĩa là một “tiền ước hòa bình”, nhưng trên thực tế áp đặt một chế độ bảo hộ rất nặng nề. Triều Nguyễn phải công nhận sự bảo hộ của Pháp; Pháp kiểm soát quan hệ đối ngoại của Đại Nam và có quyền đặt Khâm sứ tại Huế, công sứ tại nhiều tỉnh Bắc Kỳ. Nam Kỳ tiếp tục là thuộc địa Pháp; Bình Thuận bị đặt dưới cơ chế quản lý gắn với Nam Kỳ, còn Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh bị tách khỏi phạm vi hành chính Trung Kỳ theo quy định mới. Pháp được quyền đóng quân tại Thuận An, Đèo Ngang và các vị trí chiến lược; các lĩnh vực hải quan, công chính và thông tin liên lạc chịu sự kiểm soát sâu của Pháp. Do điều khoản quá khắc nghiệt và tình hình Pháp–Thanh còn biến động, Harmand không trở thành khuôn khổ lâu dài và được thay bằng Hòa ước Patenôtre năm 1884.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hiệp Hòa; phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
Niên hiệu
Hiệp Hòa
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại giao; Chính trị; Lãnh thổ
Địa điểm
Huế
Nguồn
FRUS 1883, văn bản hiệp ước: https://history.state.gov/historicaldocuments/fr...
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1884

Thời thuộc địa Pháp

Hà Nội trở thành trung tâm hành chính của Bắc Kỳ bảo hộ

Sau các hiệp ước 1883-1884, quyền kiểm soát của Pháp đối với Bắc Kỳ được củng cố và Hà Nội trở thành trung tâm của chính quyền bảo hộ.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Kiến Phúc
Niên hiệu
Kiến Phúc
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Political
Địa điểm
Hà Nội
Nguồn
(thanglong.chinhphu.vn)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1884–1885

Thời thuộc địa Pháp

Thời vua Hàm Nghi

Nguyễn Phúc Ưng Lịch là em ruột của Kiến Phúc, cùng là con của Kiên Thái vương Hồng Cai; cũng được Tự Đức nhận làm con nuôi

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1884–1885

Thời thuộc địa Pháp

Chiến tranh Pháp-Thanh

Trung Quốc can thiệp để bảo vệ ảnh hưởng tại Bắc Kỳ, dẫn đến chiến tranh Pháp-Thanh.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
War
Địa điểm
Bắc Kỳ
Nguồn
Library of Congress
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1884–1887

Thời thuộc địa Pháp

Nhà thờ Lớn Hà Nội

Nhà thờ Lớn Hà Nội, tên chính thức Nhà thờ Chính tòa Thánh Giuse, được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Công trình hoàn thành về cơ bản năm 1886 và được khánh thành vào Giáng sinh năm 1887. Khu đất gắn với khu vực chùa Báo Thiên và tháp Báo Thiên của Thăng Long trước đó.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi; Đồng Khánh
Niên hiệu
Hàm Nghi; Đồng Khánh
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Tôn giáo; Kiến trúc; Thuộc địa
Địa điểm
Hoàn Kiếm, Hà Nội
Ngày kết thúc
25/12/1887
Nguồn
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; tư liệu Hà Nội (Du lịch Việt Nam)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1884

Thời thuộc địa Pháp

Hòa ước Patenôtre (Hòa ước Giáp Thân 1884)

Hòa ước Patenôtre được ký tại Huế ngày 06/06/1884 giữa sứ thần Pháp Jules Patenôtre và các đại diện triều Nguyễn Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Phan. Văn kiện gồm 19 điều, thay thế các thỏa thuận năm 1874 và điều chỉnh một số điều khoản quá khắc nghiệt của Hòa ước Harmand 1883, nhưng vẫn giữ nguyên nguyên tắc cốt lõi: Đại Nam chấp nhận chế độ bảo hộ của Pháp. Pháp đại diện Đại Nam trong quan hệ đối ngoại; quân Pháp có quyền thường trú tại Thuận An; các công trình quân sự, hải quan và một số ngành hành chính quan trọng bị đặt dưới sự kiểm soát hoặc giám sát của Pháp. Các cảng Quy Nhơn, Đà Nẵng và Xuân Đài được mở cho thương mại; Pháp được đặt đại diện tại Huế và công sứ tại các tỉnh Bắc Kỳ. Triều đình Huế vẫn duy trì bộ máy hành chính ở Trung Kỳ nhưng quyền tự chủ đối ngoại và quân sự bị hạn chế nghiêm trọng. Hòa ước Patenôtre trở thành một trong những cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Pháp tổ chức chế độ bảo hộ tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Kiến Phúc; phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
Niên hiệu
Kiến Phúc
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Ngoại giao; Chính trị; Lãnh thổ
Địa điểm
Huế
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3097/14428/ca...
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885

Thời thuộc địa Pháp

Kinh thành Huế thất thủ

Đêm 4 rạng sáng 05/07/1885, phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết chỉ huy tấn công quân Pháp tại Huế nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi rời kinh thành và bắt đầu cuộc kháng chiến.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự / Chính trị
Địa điểm
Huế
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885

Thời thuộc địa Pháp

Phong trào Cần Vương

Phong trào Cần Vương hình thành trong bối cảnh triều Nguyễn đã ký Hòa ước Patenôtre năm 1884, chấp nhận chế độ bảo hộ của Pháp, nhưng phái chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng đầu vẫn chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Rạng sáng 05/07/1885, Tôn Thất Thuyết tổ chức quân triều đình tiến công các vị trí quân Pháp tại Huế. Cuộc phản công thất bại trước ưu thế hỏa lực của Pháp, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi rời kinh thành, trước hết lên căn cứ Tân Sở ở Quảng Trị. Ngày 13/07/1885, tại Tân Sở, nhân danh vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết ban Dụ Cần Vương, lên án hành động xâm lược của Pháp và kêu gọi văn thân, sĩ phu cùng nhân dân đứng lên “giúp vua”, chống Pháp. Nguồn nghiên cứu hiện nay còn lưu ý rằng ngoài văn bản tại Tân Sở, có một lời kêu gọi Cần Vương tiếp theo gắn với vua Hàm Nghi tại Ấu Sơn, Hà Tĩnh ngày 20/09/1885; vì vậy không nên giản lược toàn bộ lịch sử văn bản Cần Vương thành một “Chiếu Cần Vương” duy nhất. Phong trào nhanh chóng lan rộng, đặc biệt mạnh tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, với sự tham gia của nhiều văn thân, sĩ phu, quan lại cũ và đông đảo nông dân. Có thể chia phong trào thành hai giai đoạn lớn: 1885–1888, khi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết còn là biểu tượng trung tâm của cuộc kháng chiến; và 1888–1896, sau khi Hàm Nghi bị bắt và lưu đày, các cuộc khởi nghĩa địa phương vẫn tiếp tục chiến đấu dưới danh nghĩa Cần Vương. Những trung tâm tiêu biểu gồm Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh và Hương Khê. Phong trào mang đặc trưng của một phong trào yêu nước chống thực dân dưới hệ tư tưởng quân chủ: mục tiêu trực tiếp là đánh Pháp, khôi phục quyền tự chủ và phò vua Hàm Nghi. Do tổ chức phân tán theo từng địa phương, thiếu một hệ thống chỉ huy thống nhất trên toàn quốc và chịu bất lợi lớn về vũ khí, hậu cần và tương quan quân sự, các cuộc khởi nghĩa lần lượt bị đàn áp. Sự suy yếu và tan rã của khởi nghĩa Hương Khê vào khoảng 1895–1896 thường được xem là mốc kết thúc phong trào Cần Vương. Dù thất bại, đây là phong trào kháng Pháp rộng lớn nhất do tầng lớp văn thân, sĩ phu lãnh đạo trong những thập niên cuối thế kỷ XIX và là một giai đoạn quan trọng trong quá trình chuyển biến của phong trào yêu nước Việt Nam.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Kháng chiến
Địa điểm
Tân Sở, Quảng Trị
Ngày bắt đầu
13/07/1985
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885–1896

Thời thuộc địa Pháp

Các cuộc khởi nghĩa theo phong trào Cần Vương

Sau Dụ Cần Vương tháng 07/1885, nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp vốn đang hình thành hoặc mới xuất hiện tại các địa phương đã phát triển mạnh và gắn mình với danh nghĩa “Cần Vương”. Các lực lượng này không phải một quân đội thống nhất do triều đình Hàm Nghi trực tiếp chỉ huy, mà phần lớn là những trung tâm kháng chiến địa phương tương đối độc lập, do văn thân, sĩ phu, cựu quan lại và thủ lĩnh địa phương tổ chức. Địa bàn hoạt động trải rộng từ đồng bằng Bắc Bộ đến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và nhiều tỉnh Trung Kỳ. Trong số các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thường được nhắc tới có Ba Đình ở Thanh Hóa do Đinh Công Tráng, Phạm Bành và các thủ lĩnh khác lãnh đạo; Bãi Sậy ở vùng Hưng Yên–Hải Dương với Nguyễn Thiện Thuật là thủ lĩnh tiêu biểu; và Hương Khê do Phan Đình Phùng, Cao Thắng lãnh đạo, lan rộng trên khu vực Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình và Thanh Hóa. Phương thức tác chiến rất đa dạng: một số nơi xây dựng căn cứ phòng thủ kiên cố như Ba Đình; một số lực lượng dựa vào làng xã, vùng đầm lầy và mạng lưới cơ sở trong dân để tiến hành chiến tranh du kích như Bãi Sậy; Hương Khê xây dựng tổ chức quân sự tương đối chặt, chia địa bàn thành nhiều “quân thứ” và tổ chức chế tạo vũ khí. Điểm chung của các cuộc khởi nghĩa là dựa nhiều vào sự hỗ trợ của dân cư địa phương, tận dụng địa hình, phục kích và đánh nhỏ để đối phó với quân Pháp có ưu thế về súng đạn và hậu cần. Tuy nhiên, do không hình thành được bộ chỉ huy thống nhất trên phạm vi cả nước, khả năng phối hợp chiến lược còn hạn chế, nguồn cung vũ khí và lương thực không ổn định, các căn cứ dần bị Pháp cô lập rồi đàn áp. Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt năm 1888, phong trào không chấm dứt ngay; nhiều thủ lĩnh vẫn tiếp tục chiến đấu trong nhiều năm. Khởi nghĩa Hương Khê tồn tại lâu nhất trong số các trung tâm tiêu biểu và sự thất bại của lực lượng này vào giữa thập niên 1890 thường được xem là dấu mốc kết thúc thời kỳ Cần Vương.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Kháng chiến
Địa điểm
Bắc - Trung - Nam Bộ
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885–1892

Thời thuộc địa Pháp

Khởi nghĩa Bãi Sậy

Khởi nghĩa Bãi Sậy là một trong những trung tâm chống Pháp lớn nhất của phong trào Cần Vương ở đồng bằng Bắc Bộ. Cần phân biệt hai giai đoạn hình thành: từ khoảng 1883–1885, lực lượng kháng Pháp tại vùng Bãi Sậy đã hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đinh Gia Quế; từ năm 1885, sau khi Dụ Cần Vương được ban bố, Nguyễn Thiện Thuật trở về Hưng Yên, tập hợp và mở rộng các lực lượng địa phương, trở thành thủ lĩnh tiêu biểu nhất của cuộc khởi nghĩa. Căn cứ Bãi Sậy nằm trong vùng lau sậy, đầm lầy và làng mạc thuộc các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ của Hưng Yên; hoạt động của nghĩa quân còn lan sang Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Yên. Không giống kiểu căn cứ phòng thủ tập trung của Ba Đình, nghĩa quân Bãi Sậy chủ yếu phân tán thành những toán nhỏ, thường khoảng vài chục người, dựa vào dân làng, địa hình sông ngòi, ruộng trũng và bãi lau để ẩn náu, cơ động và phục kích. Các toán nghĩa quân phối hợp đánh đồn, phục kích các toán quân Pháp, tập kích giao thông và tránh đối đầu trực diện khi bất lợi. Nguyễn Thiện Thuật xây dựng mạng lưới chỉ huy gồm nhiều thủ lĩnh như Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện Dương, Đốc Tít Nguyễn Đức Hiệu và các chỉ huy địa phương khác. Vũ khí ban đầu chủ yếu là giáo mác, mã tấu và súng thu được hoặc tự chế, nhưng nghĩa quân cũng tìm cách chế tạo vũ khí theo mẫu súng của Pháp. Chính quyền Pháp phải tổ chức nhiều cuộc càn quét, lập đồn bốt, kiểm soát làng xã và chia cắt mạng lưới hậu cần để đối phó. Đến cuối thập niên 1880, sức ép quân sự ngày càng lớn; Nguyễn Thiện Thuật rời Việt Nam sang Trung Quốc, trong khi các lực lượng còn lại tiếp tục chiến đấu dưới những thủ lĩnh khác. Đến khoảng 1892, phong trào Bãi Sậy về cơ bản bị đàn áp. Cuộc khởi nghĩa được đánh giá là một trong những cuộc kháng Pháp có quy mô, thời gian tồn tại và ảnh hưởng lớn nhất tại đồng bằng Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt nổi bật về phương thức chiến tranh du kích dựa vào địa hình và dân cư địa phương.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Kháng chiến
Địa điểm
Hưng Yên - Hải Dương
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885–1896

Thời thuộc địa Pháp

Khởi nghĩa Hương Khê

Khởi nghĩa Hương Khê là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn, kéo dài và có tổ chức quân sự nổi bật nhất của phong trào Cần Vương. Cuộc khởi nghĩa hình thành từ 1885 tại khu vực Hương Khê–Hương Sơn của Hà Tĩnh, dưới sự lãnh đạo cao nhất của Phan Đình Phùng, một cựu quan triều Nguyễn, cùng với Cao Thắng, người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức và xây dựng lực lượng quân sự. Địa bàn hoạt động sau đó mở rộng ra bốn tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình và Thanh Hóa. Phong trào được tổ chức thành khoảng 15 quân thứ, mỗi quân thứ phụ trách một địa bàn và có lực lượng riêng; quân số mỗi đơn vị thay đổi tùy khu vực. Trong giai đoạn đầu, nghĩa quân tập trung xây dựng căn cứ, tuyển quân, huấn luyện và tích trữ lương thực, đồng thời xây dựng hệ thống liên lạc giữa các vùng. Một nét nổi bật là khả năng chế tạo vũ khí: dưới sự chỉ đạo của Cao Thắng, nghĩa quân tháo nghiên cứu súng trường của Pháp rồi chế tạo nhiều khẩu súng theo mẫu; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện còn lưu giữ hiện vật súng do lực lượng Cao Thắng chế tạo và ghi nhận hàng trăm khẩu đã được sản xuất. Từ cuối thập niên 1880, nghĩa quân tăng cường phục kích, đánh đồn, tập kích các tuyến giao thông và chống lại nhiều cuộc càn quét lớn của Pháp. Cao Thắng hy sinh năm 1893, khiến lực lượng mất một chỉ huy quân sự quan trọng. Sau đó Pháp chuyển sang chiến thuật bao vây, phá căn cứ, kiểm soát nguồn lương thực và cô lập nghĩa quân với dân cư. Phan Đình Phùng mất cuối năm 1895; sau đó các đơn vị còn lại dần tan rã hoặc bị tiêu diệt trong năm 1896. Vì có thời gian tồn tại khoảng một thập niên, phạm vi hoạt động liên tỉnh, hệ thống “quân thứ”, khả năng tổ chức hậu cần và đặc biệt là việc tự chế tạo súng, Hương Khê thường được đánh giá là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu và có trình độ tổ chức quân sự cao nhất trong phong trào Cần Vương. Sự tan rã của Hương Khê cũng thường được sử dụng như mốc kết thúc phong trào Cần Vương trên phạm vi cả nước.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Kháng chiến
Địa điểm
Hà Tĩnh - Nghệ An - Quảng Bình
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885–1886

Thời thuộc địa Pháp

Hiệp ước Thiên Tân và kết thúc chiến tranh Pháp-Thanh

Trung Quốc từ bỏ quyền bảo hộ truyền thống đối với Đại Nam; Pháp củng cố quyền kiểm soát Việt Nam.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Hàm Nghi
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Treaty
Địa điểm
Trung Quốc-Việt Nam
Nguồn
French Ministry of Defence; Library of Congress
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1885–1888

Thời thuộc địa Pháp

Thời vua Đồng Khánh

Nguyễn Phúc Ưng Kỷ là anh ruột của Hàm Nghi, cùng là con Kiên Thái vương Hồng Cai; được Tự Đức nhận làm con nuôi

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Đồng Khánh
Niên hiệu
Đồng Khánh
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1886–1887

Thời thuộc địa Pháp

Khởi nghĩa Ba Đình

Khởi nghĩa Ba Đình là một trong những trung tâm kháng Pháp tiêu biểu của phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa, hình thành sau khi Dụ Cần Vương năm 1885 thúc đẩy các lực lượng văn thân, sĩ phu và nhân dân địa phương tổ chức chống Pháp. Tháng 02/1886, căn cứ Ba Đình được xây dựng trên địa phận ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Tên gọi “Ba Đình” bắt nguồn từ ba ngôi đình của ba làng nằm trong hệ thống căn cứ; từ đình làng này có thể quan sát khu vực hai làng còn lại. Các thủ lĩnh chủ chốt gồm Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Khế, Nguyễn Viết Toại cùng nhiều văn thân và thủ lĩnh địa phương; phong trào còn có sự tham gia của người Kinh, Mường, Thái và các lực lượng Cần Vương ở Thanh Hóa. Căn cứ được xây dựng theo mô hình phòng thủ tập trung rất kiên cố: bên ngoài có lũy tre, tiếp đến là hào sâu khoảng 3–4 m, bãi chông và hệ thống thành đất dày; bên trong bố trí các đồn Thượng, Trung và Hạ liên kết bằng giao thông hào. Cách tổ chức này giúp nghĩa quân có thể phòng thủ trong thời gian dài trước lực lượng Pháp có pháo binh và vũ khí hiện đại hơn. Từ cuối năm 1886, quân Pháp mở nhiều đợt tấn công quy mô lớn nhưng gặp sự chống trả quyết liệt. Từ tháng 12/1886 đến tháng 01/1887, Ba Đình bị bao vây ngày càng chặt; quân Pháp tăng quân số, sử dụng pháo binh, cắt đường tiếp tế và đốt các lũy tre để phá hệ thống phòng thủ. Sau khoảng hơn một tháng chiến đấu liên tục, đêm 20/01/1887 nghĩa quân tổ chức phá vòng vây và rút khỏi Ba Đình về căn cứ Mã Cao. Quân Pháp chiếm và phá hủy căn cứ ngay sau đó. Một bộ phận nghĩa quân tiếp tục kháng chiến tại Mã Cao và các vùng khác; Đinh Công Tráng sau đó tìm cách liên hệ với phong trào kháng Pháp ở Nghệ–Tĩnh nhưng hy sinh trong năm 1887. Khởi nghĩa Ba Đình tuy tồn tại trong thời gian tương đối ngắn nhưng nổi bật bởi quy mô công sự, khả năng huy động lực lượng và sức chống trả trước các chiến dịch quân sự lớn của Pháp. Tên gọi Ba Đình sau này được bác sĩ Trần Văn Lai, Đốc lý Hà Nội năm 1945, dùng để đổi tên Vườn hoa Puginier nhằm tưởng niệm cuộc khởi nghĩa chống Pháp này; địa điểm sau đó trở thành Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/09/1945. Việc đặt tên không có nghĩa Ba Đình là nơi phát động phong trào Cần Vương hay được chính thức xếp cao hơn Bãi Sậy, Hương Khê và Hùng Lĩnh; Ba Đình là một trong các trung tâm tiêu biểu hưởng ứng Cần Vương, còn phong trào được phát động từ Tân Sở, Quảng Trị năm 1885.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Đồng Khánh
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự; Chính trị; Kháng chiến
Địa điểm
Mậu Thịnh – Thượng Thọ – Mỹ Khê, Nga Sơn, Thanh Hóa; căn cứ Mã Cao và các vùng phụ cận
Ngày bắt đầu
01/02/1886
Ngày kết thúc
20/01/1887
Nguồn
Thông tấn xã Việt Nam – Nhân vật Sự kiện: Khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887), https://nvsk.vnanet.vn/print/khoi-nghia-ba-dinh-1886-87-34872.vna ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Đinh Công Tráng và khởi nghĩa Ba Đình, https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3098/15545/djinh-cong-trang-1842-1887-lanh-tu-cuoc-khoi-nghia-ba-djinh-trong-phong-trao-can-vuong-chong-phap-cuoi-the-ky-xix.html ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Địa danh Ba Đình và Quảng trường Ba Đình, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2001/68050/djia-danh-ba-djinh-va-quang-truong-ba-djinh-ha-noi.html (Nhân vật - Sự kiện)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1886

Thời thuộc địa Pháp

Pháp phá điện Kính Thiên, xây trụ sở pháo binh

Điện Kính Thiên bị phá, trên nền điện xây một tòa nhà hai tầng làm Bộ Chỉ huy Pháo binh Pháp.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Đồng Khánh
Niên hiệu
Đồng Khánh
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Architecture
Địa điểm
Hoàng thành Hà Nội
Nguồn
(baochinhphu.vn)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1887–1892

Thời thuộc địa Pháp

Khởi nghĩa Hùng Lĩnh

Khởi nghĩa Hùng Lĩnh là một trung tâm kháng Pháp lớn của phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa, do Tống Duy Tân và Cao Điển (Cao Điền) lãnh đạo, với sự phối hợp của Cầm Bá Thước, Hà Văn Nho và nhiều thủ lĩnh Cần Vương khác. Quá trình chuẩn bị lực lượng bắt đầu từ năm 1885–1886: sau Dụ Cần Vương, Tống Duy Tân được vua Hàm Nghi giao nhiệm vụ tổ chức kháng chiến ở Thanh Hóa; năm 1886, ông và Cao Điển xây dựng căn cứ Phi Lai ở Hà Trung để hỗ trợ cho Ba Đình, đồng thời chuẩn bị căn cứ riêng tại vùng thượng nguồn sông Mã thuộc Vĩnh Lộc. Sau khi Ba Đình và Mã Cao thất thủ đầu năm 1887, lực lượng của Tống Duy Tân rút lên vùng Hùng Lĩnh, hình thành một trung tâm kháng chiến mới. Vì vậy, nếu coi Hùng Lĩnh là một cuộc khởi nghĩa độc lập thì mốc 1887–1892 phù hợp hơn; một số nguồn tính toàn bộ quá trình chuẩn bị và hoạt động của lực lượng từ năm 1885. Thời kỳ đầu, do lực lượng còn yếu và bị quân Pháp bao vây, Tống Duy Tân phải tạm rời Thanh Hóa, tìm cách liên hệ với các lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ và với Tôn Thất Thuyết ở Trung Quốc. Khoảng đầu năm 1889, ông trở lại Thanh Hóa và cùng Cao Điển tái tổ chức nghĩa quân. Hùng Lĩnh dựa vào địa hình núi rừng, thượng nguồn sông Mã và một hệ thống căn cứ phân tán như Bồng Trung, Đa Bút, Hùng Lĩnh, Thường Xuân, Quan Hóa, kết hợp làng chiến đấu, công sự, kho lương và các cơ sở rèn vũ khí. Khác với mô hình phòng thủ cố định của Ba Đình, nghĩa quân Hùng Lĩnh cơ động hơn, chia nhỏ lực lượng, dựa vào địa hình để phục kích và tránh các chiến dịch càn quét lớn. Nghĩa quân còn tìm cách phối hợp với Đề Kiều – Đốc Ngữ ở vùng sông Đà, Phan Đình Phùng và lực lượng Hương Khê ở Nghệ–Tĩnh, Cầm Bá Thước tại miền tây Thanh Hóa cùng các trung tâm chống Pháp khác. Ngày 08/10/1889, lực lượng Hùng Lĩnh đánh một toán quân từ đồn Nông Cống, gây tổn thất đáng kể cho quân Pháp; sau đó Pháp liên tục mở các cuộc càn quét lớn vào khu vực căn cứ. Trong các năm 1890–1891, Tống Duy Tân và Cao Điển phải nhiều lần chuyển quân giữa vùng đồng bằng và miền núi Thanh Hóa, sử dụng phương thức phục kích, tập kích và phân tán lực lượng để tránh bị tiêu diệt. Đầu năm 1892, sau nhiều năm chiến đấu, lực lượng chỉ còn khoảng hơn một trăm người cùng số lượng súng hạn chế; hậu cần suy giảm do quân Pháp tăng cường kiểm soát dân cư và cắt đường tiếp tế. Ngày 18/05/1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh phối hợp với lực lượng Đốc Ngữ đánh một trong những trận lớn cuối cùng tại vùng Niên Kỷ. Sau đó Tống Duy Tân chủ trương phân tán lực lượng. Ông bị bắt vào đầu tháng 10/1892; nguồn của Thông tấn xã Việt Nam ghi ngày 05/10/1892, trong khi một số công trình lịch sử ghi 04/10/1892, cho thấy còn sai khác nhỏ về ngày bắt. Tống Duy Tân bị xử tử tại Thanh Hóa ngày 23/11/1892 (mồng 5 tháng 10 năm Nhâm Thìn); sự kiện này thường được xem là mốc chấm dứt khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Cao Điển thoát ra Bắc và tiếp tục tìm cách tham gia phong trào chống Pháp trước khi bị bắt sau đó; Cầm Bá Thước vẫn duy trì hoạt động ở miền tây Thanh Hóa đến năm 1895. Hùng Lĩnh có ý nghĩa như sự kế tục trực tiếp phong trào Ba Đình ở Thanh Hóa, đồng thời thể hiện sự chuyển đổi từ mô hình căn cứ phòng thủ tập trung sang chiến tranh cơ động, phân tán và liên kết giữa nhiều trung tâm Cần Vương.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Thời thuộc địa Pháp
Vương triều
6. Nguyễn
Người trị vì
Hàm Nghi
Niên hiệu
Đồng Khánh; Thành Thái
Tên nước
Đại Nam
Loại sự kiện
Quân sự; Chính trị; Kháng chiến
Địa điểm
Hùng Lĩnh, Vĩnh Lộc; Bồng Trung, Đa Bút; Thường Xuân, Quan Hóa và vùng thượng nguồn sông Mã, Thanh Hóa
Ngày bắt đầu
01/02/1887
Ngày kết thúc
23/11/1892
Nguồn
Lịch sử Việt Nam, Tập 6, Viện Sử học/NXB KHXH, phần “Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887–1892)”, bản số hóa: https://thuvientinh.quangngai.gov.vn/wp-content/uploads/2020/12/224-472-da-nen.pdf ; Thông tấn xã Việt Nam – Nhân vật Sự kiện: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh, https://nvsk.vnanet.vn/khoi-nghia-hung-linh-1885-1892-1-34965.vna (Thư Viện Tỉnh Quảng Ngãi)
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

Dữ liệu từ bảng công khai của Lazi Voyage; được lưu cùng website để tra cứu ổn định.