Du lịch · Ẩm thực · Văn hoá Việt Nam
LaziVoyage
Menu

Dòng chảy lịch sử

Sử Việt qua những dấu mốc

Tra cứu các giai đoạn, nhân vật, sự kiện và nguồn tư liệu về lịch sử Việt Nam.

687 sự kiện · Trang 9 / 35

1471

5. Lê sơ

Lê Thánh Tông chinh phạt Champa

Quân Đại Việt tiến đánh Champa, chiếm Vijaya. Sau chiến dịch, lãnh thổ Champa bị thu hẹp đáng kể và Đại Việt mở rộng ảnh hưởng về phía Nam.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Thánh Tông
Niên hiệu
Hồng Đức
Loại sự kiện
Quân sự / Lãnh thổ
Địa điểm
Champa
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1471

4.2. Champa

Vijaya thất thủ trước quân Lê Thánh Tông

Quân Lê chiếm Vijaya; nhà Lê tổ chức thừa tuyên Quảng Nam trên vùng đất kiểm soát được. Trung tâm quyền lực Chăm ở Vijaya sụp đổ, nhưng các chính thể Chăm phía nam tiếp tục tồn tại. Vì vậy, 1471 không phải mốc kết thúc toàn bộ lịch sử chính trị Champa.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
4.2. Champa
Vương triều
4.2. Champa
Người trị vì
Trà Toàn
Niên hiệu
—
Tên nước
Champa
Loại sự kiện
Quân sự; Lãnh thổ; Hành chính
Địa điểm
Đồ Bàn–Vijaya; vùng nam Hải Vân đến Bình Định
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Sự kiện lớn năm 1471; Po Dharma về niên đại kết thúc Champa
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1478

5. Lê sơ

Đại Việt tiến quân về phía Tây

Nhà Lê tiến hành chiến dịch quân sự về phía Tây, phản ánh sức mạnh quân sự và phạm vi hoạt động của Đại Việt dưới thời Lê Thánh Tông.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Thánh Tông
Niên hiệu
Hồng Đức
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Ai Lao
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1483

5. Lê sơ

Hoàn thiện Quốc triều hình luật - Luật Hồng Đức

Hệ thống pháp luật thời Lê được hoàn thiện, trong đó Quốc triều hình luật là thành tựu pháp lý tiêu biểu nhất của thời Lê sơ.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Thánh Tông
Niên hiệu
Hồng Đức
Loại sự kiện
Pháp luật
Địa điểm
Thăng Long
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1491–1585

Nam - Bắc triều

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585)

Nguyễn Bỉnh Khiêm, húy thường được ghi là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân Am cư sĩ, về sau được gọi là Tuyết Giang phu tử, là một trong những trí thức, nhà giáo và tác gia có ảnh hưởng lớn nhất của Đại Việt thế kỷ XVI. Ông sinh năm 1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, nay thuộc khu vực Vĩnh Bảo, Hải Phòng. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Thuở trẻ Nguyễn Bỉnh Khiêm học Nho học và nổi tiếng thông minh. Truyền thống học thuật ghi ông từng theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, một học giả lớn cuối Lê sơ; nhiều tài liệu về sau còn kể Lương Đắc Bằng truyền cho ông các kiến thức Dịch học và Thái Ất thần kinh. Tuy nhiên, những chi tiết liên quan trực tiếp đến thuật số, tiên tri và việc truyền một bộ sách bí truyền cần được coi là truyền thống hậu thế, không nên đặt ngang mức với dữ kiện khoa cử và quan chức được văn bia–sử liệu xác nhận. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống phần lớn tuổi trẻ trong giai đoạn nhà Lê sơ suy yếu nghiêm trọng: khởi nghĩa Trần Cảo, các cuộc tranh chấp quyền lực, sự suy sụp của triều Lê và việc Mạc Đăng Dung lập nhà Mạc năm 1527. Ông không ra thi ngay từ trẻ mà đến năm 1535, khi đã ngoài bốn mươi tuổi, mới dự khoa thi dưới triều Mạc Đăng Doanh. Bia khoa cử và tư liệu Hán Nôm xác nhận ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh – Trạng nguyên, khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính, năm 1535. Đây là dữ kiện chắc chắn và là nguồn gốc danh xưng “Trạng” của ông. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Sau khi đỗ, Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan cho nhà Mạc. Tư liệu Hán Nôm ghi ông từng giữ các chức như Tả Thị lang Bộ Lại, Đông các Đại học sĩ và được triều đình trọng dụng. Thời gian trực tiếp làm quan thường được xác định khoảng 1535–1542. Theo truyền thống sử học và thần tích địa phương, khi chính sự nhà Mạc xuất hiện nhiều vấn đề, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin xử 18 lộng thần nhưng không được chấp thuận nên cáo quan về quê. Một số nghiên cứu Hán Nôm cũng sử dụng mốc 1542 cho việc ông rời quan trường và về Trung Am. Tuy nhiên, chi tiết “18 lộng thần” chủ yếu được truyền qua các văn bản hậu kỳ và thần tích, vì vậy nên ghi là truyền thống sử học phổ biến, thay vì khẳng định đây là một sự kiện đã được văn thư triều Mạc đương thời bảo tồn đầy đủ. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Sau khi về quê, ông dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân, mở trường dạy học và dành phần lớn bốn thập niên cuối đời cho giáo dục, trước tác và tham vấn thời cuộc. Đây là giai đoạn tạo nên ảnh hưởng lâu dài nhất của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Viện Nghiên cứu Hán Nôm xác nhận ông gắn bó đặc biệt với quê Trung Am, nơi vừa là không gian sống vừa trở thành nguồn cảm hứng quan trọng trong thơ văn. Nhiều nhân vật lớn của thế kỷ XVI được các tài liệu hậu thế xếp vào hàng môn sinh hoặc chịu ảnh hưởng của ông, thường kể đến Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thì Cử và một số danh sĩ khác. Tuy nhiên, mức độ quan hệ thầy–trò của từng người không hoàn toàn đồng đều về chứng cứ; trường hợp Phùng Khắc Khoan được thư tịch Hán Nôm ghi khá rõ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn một số tên khác chủ yếu xuất hiện trong truyền thống tiểu sử về sau. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Về văn học, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những tác gia lớn của thế kỷ XVI, sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm. Hai hệ thống tác phẩm quan trọng thường gắn với ông là Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Nghiên cứu của Viện Hán Nôm cho thấy riêng thơ Nôm đã có hơn 160 bài được sưu tập và chỉnh lý, đồng thời vẫn còn vấn đề văn bản học về dị bản và tác quyền của một số bài. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện tư tưởng Nho–Lão đan xen, quan niệm về thời thế, đạo làm người, đời sống ẩn dật, nông thôn và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Ông không đơn thuần là một “ẩn sĩ thoát tục”: thơ văn cho thấy ông quan sát rất kỹ biến động xã hội và vẫn duy trì sự quan tâm sâu sắc tới trị quốc và vận mệnh chính trị. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Về tư tưởng chính trị, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời kỳ Nam – Bắc triều, khi nhà Mạc kiểm soát vùng Bắc Bộ và nhà Lê Trung hưng hình thành ở Thanh Hóa. Ông từng làm quan chính thức cho nhà Mạc và sau khi về hưu vẫn được các vua Mạc trọng vọng; Viện Hán Nôm cho biết nhà Mạc vẫn sai người đến hỏi quốc sự và phong ông các chức, tước cao như Thượng thư Bộ Lại, Trình Tuyên hầu, về sau Trình Quốc công. Chính tước Trình Quốc công, kết hợp với học vị Trạng nguyên, là một trong những cơ sở của danh xưng dân gian “Trạng Trình”. Khi mất, ông tiếp tục được nhà Mạc tôn vinh và tại địa phương được thờ làm phúc thần. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Một trong những vấn đề nổi tiếng nhưng cần xử lý cẩn trọng nhất là vai trò “cố vấn chiến lược” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với các thế lực Mạc – Trịnh – Nguyễn. Truyền thống hậu thế kể rằng ông khuyên Nguyễn Hoàng tìm đường vào phía nam qua câu “Hoành Sơn nhất đái - Vạn đại dung thân”, khuyên Trịnh Kiểm duy trì nhà Lê qua hình tượng “giữ chùa thờ phật thì ăn oản”, và khuyên nhà Mạc lấy Cao Bằng "Cao Bằng tuy thiểm, khả dung sổ thế" làm nơi duy trì cơ nghiệp. Những câu chuyện này có ảnh hưởng rất mạnh trong ký ức lịch sử Việt Nam và phản ánh cách hậu thế nhìn ông như một nhà dự báo chính trị xuất sắc. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện đại chỉ ra rằng không phải tất cả đều được nguồn đương thời chứng thực. Câu chuyện Nguyễn Hoàng hỏi kế và câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” xuất hiện rõ trong các văn bản được biên soạn muộn hơn như Nam triều công nghiệp diễn chí và Công dư tiệp ký; một số nghiên cứu thậm chí chỉ ra sai lệch niên đại giữa các dị bản. (Scholar DLU) Tương tự, hệ thống “Sấm Trạng Trình” có lịch sử văn bản rất phức tạp. Nhiều lời tiên tri được gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm qua các thế kỷ, nhưng tồn tại nhiều dị bản, thêm bớt và diễn giải hậu thế. Viện Hán Nôm ghi nhận truyền thống sấm ký liên quan ông, nhưng nghiên cứu văn bản cho thấy không thể coi toàn bộ văn bản phổ biến hiện nay là tác phẩm nguyên dạng do Nguyễn Bỉnh Khiêm trực tiếp viết. Do đó, ông có thể được mô tả là nhân vật gắn với một truyền thống dự báo, Dịch học và sấm ký rất mạnh, nhưng không nên khẳng định từng câu sấm lưu truyền hiện nay đều là trước tác xác thực của ông. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, thọ khoảng 94–95 tuổi theo cách tính tuổi cổ. Triều Mạc truy tặng ông chức Thái phó và tiếp tục tôn vinh tước Trình Quốc công. Về vị trí lịch sử, ông cần được nhìn trên ít nhất bốn phương diện: Trạng nguyên và quan chức nhà Mạc; nhà giáo có ảnh hưởng sâu rộng; tác gia Hán–Nôm lớn của thế kỷ XVI; và trí thức chính trị sống giữa thời đại phân liệt Nam–Bắc triều. Hình tượng “nhà tiên tri Trạng Trình” là một lớp tiếp nhận văn hóa quan trọng nhưng phải được phân biệt với tiểu sử lịch sử có thể kiểm chứng.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5.1. Mạc
Người trị vì
Mạc Đăng Doanh; Mạc Phúc Hải; Mạc Phúc Nguyên; Mạc Mậu Hợp
Niên hiệu
Đại Chính; Quang Hòa; Sùng Khang; Thuần Phúc; Chính Trị; Hồng Ninh
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Chính trị; Giáo dục; Văn hóa; Văn học; Tư tưởng
Địa điểm
Trung Am, Vĩnh Lại, Hải Dương xưa – nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng; Thăng Long và vùng Bắc triều nhà Mạc
Nguồn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Trịnh Khắc Mạnh, “Làng quê Trung Am trong thơ, văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585)”, Tạp chí Hán Nôm 1/2001: https://hannom.vass.gov.vn/web/tchn/DATA1/0101v.htm ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, danh sách khoa cử nhà Mạc – khoa Ất Mùi 1535: https://hannom.vass.gov.vn/van-khac-61695 ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, “Về bài thơ Nôm số 79 của Nguyễn Bỉnh Khiêm”: https://hannom.vass.gov.vn/doc-sach-trao-doi-y-kien/ve-bai-tho-nom-so-79-cua-nguyen-binh-khiem-tap-chi-han-nom-so-4-94-2009-tr-68-73-506418 ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu về lưỡng đầu chế Lê–Trịnh và Nguyễn Bỉnh Khiêm: https://hannom.vass.gov.vn/hoi-nghi-hoi-thao/luong-dau-che-thoi-le-trinh-va-nhung-he-qua-lich-su-cua-no-505740 ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Những cái nhất của Trạng nguyên triều Mạc”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/15382/nhung-cai-nhat-cua-trang-nguyen-trieu-mac.html ; Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đinh Gia Khánh chủ biên, NXB Văn học, 1983.
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1497

5. Lê sơ

Lê Thánh Tông qua đời

Lê Thánh Tông qua đời, kết thúc một trong những giai đoạn cường thịnh nhất của Đại Việt thời quân chủ.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Thánh Tông
Niên hiệu
Hồng Đức
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Thăng Long
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1497–1504

5. Lê sơ

Thời vua Lê Hiến Tông

Con trai trưởng của Lê Thánh Tông

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Hiến Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1504

5. Lê sơ

Thời Lê Túc Tông

Con trai thứ ba của Lê Hiến Tông

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Túc Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1505–1509

5. Lê sơ

Thời Lê Uy Mục

Con trai thứ hai của Lê Hiến Tông, anh của Lê Túc Tông; Hoàng tử; được em là Túc Tông chỉ định kế vị trong di chiếu

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Uy Mục
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1509

5. Lê sơ

Lê Tương Dực lên ngôi sau biến động triều đình

Sau nhiều biến động kế vị, Lê Tương Dực lên ngôi. Những năm cuối Lê sơ chứng kiến sự suy yếu ngày càng rõ của triều đình trung ương.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Tương Dực
Niên hiệu
Hồng Thuận
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Thăng Long
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1510–1516

5. Lê sơ

Thời Lê Tương Dực

Lê Oanh, cháu nội Lê Thánh Tông; Lê Uy Mục cũng là cháu nội Lê Thánh Tông; Giản Tu công; bị Uy Mục giam, sau trốn thoát, tập hợp lực lượng, lật đổ Uy Mục và tự lập làm vua

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Tương Dực
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1516–1522

5. Lê sơ

Thời Lê Chiêu Tông

Lê Y, con Cẩm Giang vương Lê Sùng, cháu nội Lê Hiến Tông; thuộc thế hệ sau Lê Tương Dực; Hoàng tử/tông thất; được Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ lập làm vua sau khi Tương Dực bị giết

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Chiêu Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1522–1527

5. Lê sơ

Thời Lê Cung Hoàng

Lê Xuân, em ruột của Lê Chiêu Tông, đều là con Lê Sùng; Hoàng tử; được Mạc Đăng Dung lập làm vua khi Chiêu Tông bỏ chạy

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
5. Lê sơ
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Cung Hoàng
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1527–1529

Nam - Bắc triều

Thời Mạc Thái Tổ

Người sáng lập nhà Mạc, thay nhà Lê năm 1527; Võ quan nhà Lê; từng giữ Đô chỉ huy sứ, tước Vũ Xuyên bá, sau được phong Vũ Xuyên hầu và nắm binh quyền; dưới Lê Cung Hoàng được phong Thái sư, Nhân Quốc công, An Hưng vương. Mạc Đăng Dung phế Lê Cung Hoàng và lên ngôi, chấm dứt Lê sơ và mở đầu nhà Mạc, lấy hiệu Mạc Thái Tổ

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5.1. Mạc
Người trị vì
Mạc Thái Tổ
Niên hiệu
Minh Đức
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Địa điểm
Thăng Long
Nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1528–1613

Nam - Bắc triều

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528–1613)

Phùng Khắc Khoan, tự Hoằng Phu, hiệu Nghị Trai, còn có hiệu Mai Nham Tử, sinh năm 1528 tại làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông là một trong những đại thần, nhà ngoại giao, nhà giáo và tác gia tiêu biểu của thời Lê Trung hưng. Phùng Khắc Khoan quê ở Phùng Xá, tên nôm là làng Bùng, chính là nguồn gốc danh xưng “Trạng Bùng”. Một vấn đề thân thế cần đặc biệt thận trọng là mối quan hệ với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia kể truyền thống rằng mẹ Phùng Khắc Khoan là Nhữ Thị Thục, từng là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi sau kết hôn với người họ Phùng, khiến hai người trở thành anh em cùng mẹ khác cha. Tuy nhiên một số công trình nghiên cứu và tài liệu hiện đại thừa nhận đây chủ yếu là truyền khẩu/gia phả hậu thế và chưa có tư liệu đương thời chứng minh tuyệt đối. Vì vậy không nên coi quan hệ huyết thống này là dữ liệu chắc chắn. Mối quan hệ thầy–trò giữa Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Bỉnh Khiêm lại được thư tịch Hán Nôm nhắc đến khá phổ biến; nghiên cứu về quan hệ Việt–Hàn của Viện Hán Nôm gọi trực tiếp Phùng Khắc Khoan là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan trưởng thành trong bối cảnh Đại Việt bị chia cắt thành Bắc triều nhà Mạc và Nam triều Lê Trung hưng. Ông sinh ra và lớn lên trong khu vực do nhà Mạc kiểm soát nhưng không lựa chọn con đường khoa cử dưới triều Mạc. Khoảng đầu thập niên 1550, ông rời vùng Bắc triều vào Thanh Hóa theo lực lượng nhà Lê Trung hưng. Một số nguồn ghi mốc 1553, khi ông vào Thanh Hóa giúp nhà Lê. Đây là lựa chọn chính trị quan trọng nhất của thời trẻ và quyết định toàn bộ sự nghiệp sau này của ông. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Những năm đầu tại Nam triều, ông từng dạy học ở nhiều nơi và tham gia kỳ thi Hương, được ghi nhận đỗ cao; sau đó được Trịnh Kiểm sử dụng trong bộ máy hành chính–quân sự. Các nguồn tiểu sử chính thống ghi ông từng giữ những chức vụ như ký lục ở ngự dinh, Cấp sự trung Binh khoa rồi Lễ khoa; có lúc vì trái ý triều đình bị giáng chức ra vùng Tương Dương, Nghệ An. Những trải nghiệm này được phản ánh trong thơ văn của ông, đặc biệt những sáng tác về chí hướng và cuộc đời quan trường. (Scov) Điều đặc biệt là Phùng Khắc Khoan đã làm quan nhiều năm trước khi đạt học vị cao nhất của mình. Năm 1580, dưới triều Lê Thế Tông, khi đã khoảng 52–53 tuổi, ông dự khoa thi và đỗ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, thường gọi là Hoàng giáp. Đây là điểm rất quan trọng để sửa một hiểu lầm phổ biến: Phùng Khắc Khoan không đỗ Trạng nguyên. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nhấn mạnh trong danh sách 46 Trạng nguyên “chính thống” không có tên ông; danh xưng “Trạng Bùng” là danh hiệu do dân gian tôn xưng, dựa vào tài năng, danh tiếng và quê làng Bùng chứ không phải học vị khoa bảng. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Sau khoa thi 1580, Phùng Khắc Khoan tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy Lê–Trịnh. Văn bia năm 1604 do chính ông soạn tại Cổ Pháp ghi rất cụ thể chức tước lúc đó: Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Hộ bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Mai Lĩnh hầu, Thượng trụ quốc. Đây là một nguồn văn bia có giá trị cao vì phản ánh trực tiếp chức vụ của ông trong thời gian đương chức. Ông vừa tham gia chính trị, tài chính, giáo dục trung ương, vừa hoạt động văn hóa–văn bia và đào tạo nhân tài. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Sự nghiệp nổi bật nhất của Phùng Khắc Khoan là ngoại giao. Năm 1592, lực lượng Lê–Trịnh đánh chiếm lại Thăng Long, nhà Mạc mất kinh đô nhưng quan hệ chính danh giữa nhà Lê Trung hưng và nhà Minh vẫn chưa được giải quyết đầy đủ. Năm 1597, khi đã khoảng bảy mươi tuổi, Phùng Khắc Khoan được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, cùng Phó sứ Nguyễn Nhân Thiệm, với nhiệm vụ cống và đặc biệt là xin nhà Minh công nhận/cầu phong cho vua Lê Thế Tông. Đại Việt sử ký toàn thư được nghiên cứu Hán Nôm dẫn lại nguyên văn việc tháng 3 năm Đinh Dậu 1597 triều đình sai Công bộ Tả Thị lang Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ sang Minh xin phong. Đây là một trong những chuyến đi sứ quan trọng nhất của thời Lê Trung hưng, bởi nó liên quan trực tiếp tới việc khôi phục địa vị ngoại giao của nhà Lê sau nhiều thập niên Nam–Bắc triều. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Phùng Khắc Khoan gặp trở ngại lớn trong thương lượng vì triều Minh không ngay lập tức công nhận hoàn toàn địa vị hoàng đế của nhà Lê, ban đầu chỉ muốn sử dụng những danh hiệu thấp hơn. Tài liệu Hán Nôm còn nhắc tới tờ biểu Phùng Khắc Khoan gửi vua Minh năm 1597 phản đối danh hiệu “An Nam Đô thống sứ”, văn kiện này được ghi trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Hoạt động ngoại giao của ông vì vậy không chỉ là nghi lễ triều cống mà gồm cả việc tranh luận về quốc thể và địa vị chính trị của Đại Việt. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Trong thời gian ở Yên Kinh/Bắc Kinh, Phùng Khắc Khoan còn để lại một sự kiện văn hóa ngoại giao đặc biệt: ông gặp đoàn sứ Triều Tiên, nổi bật là học giả–sứ thần Lý Toái Quang/Lý Túy Quang (Yi Su-gwang). Hai bên dùng bút đàm, trao đổi về lịch sử, chế độ khoa cử, phong tục và văn hóa, đồng thời xướng họa thơ. Các văn bản liên quan được bảo tồn trong Mai Lĩnh sứ hoa thi tập của Phùng Khắc Khoan và Chi Phong tập của Lý Túy Quang. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đánh giá cuộc gặp năm 1597 là một trong những cuộc tiếp xúc Việt–Triều quan trọng sớm nhất được ghi chép rõ trong thư tịch Hán văn. Về trước tác, kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu nhiều bản thơ của Phùng Khắc Khoan dưới các tên Phùng Khoan thi tập, Phùng sứ thần thi tập, Nghị Trai thi tập, Mai Lĩnh sứ hoa thi tập, Ngôn chí thi tập và những tên gọi khác. Riêng mục lục Hán Nôm ghi ít nhất 13 bản viết thuộc hệ thống Phùng Khắc Khoan thi. Nội dung thơ phản ánh khá rộng: chí hướng làm quan, đạo đức Nho sĩ, thời cuộc, cảnh vật, bang giao và trải nghiệm đi sứ. Vì vậy ông cần được xem không chỉ là chính khách và nhà ngoại giao mà còn là một tác gia Hán học lớn của cuối thế kỷ XVI–đầu XVII. (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) Một số truyền thống địa phương còn tôn Phùng Khắc Khoan là người mang các giống cây như ngô, vừng/đậu hoặc kỹ thuật dệt từ Trung Quốc về Đại Việt sau chuyến đi sứ, từ đó hình thành danh hiệu dân gian kiểu “Trạng Thần Nông”. Những câu chuyện này được nhiều tài liệu địa phương nhắc lại và phản ánh sự tôn kính của cộng đồng đối với ông. Tương tự, những chuyện vua Minh phong ông là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” cần được xử lý cẩn trọng: danh xưng nổi tiếng trong dân gian không đồng nghĩa với học vị chính thức của nhà Minh. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác nhận rõ ông chỉ đỗ Hoàng giáp tại Đại Việt và “Trạng Bùng” là danh xưng dân phong. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) Sau khi trở về nước, Phùng Khắc Khoan tiếp tục giữ những chức vụ cao trong triều Lê–Trịnh, tham gia giáo dục tại Quốc Tử Giám, soạn văn bia và hoạt động văn hóa. Ông mất năm 1613, dưới thời Lê Kính Tông–Trịnh Tùng. Các nguồn hậu thế ghi ông được truy tặng chức cao và được thờ tại quê nhà. Về vị trí lịch sử, ông đặc biệt đáng chú ý ở bốn phương diện: một trí thức lựa chọn đứng về nhà Lê Trung hưng giữa thời Nam–Bắc triều; một quan chức–nhà giáo cấp cao; một tác gia Hán văn lớn; và đặc biệt là nhà ngoại giao góp phần phục hồi địa vị chính danh của nhà Lê trong quan hệ với nhà Minh sau năm 1592. Danh xưng “Trạng Bùng” là một ví dụ tiêu biểu về cách ký ức dân gian có thể nâng một nhân vật vượt ra ngoài học vị khoa bảng thực tế của ông.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5.2. Lê Trung Hưng
Người trị vì
Lê Trung Tông; Lê Anh Tông; Lê Thế Tông; Lê Kính Tông; thực quyền chủ yếu thuộc Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng
Niên hiệu
Thuận Bình; Gia Thái; Quang Hưng; Hoằng Định
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Chính trị; Ngoại giao; Giáo dục; Văn hóa; Văn học; Hành chính
Địa điểm
Phùng Xá – Thạch Thất; Thanh Hóa; Nghệ An; Thăng Long; Yên Kinh/Bắc Kinh
Nguồn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, “Một số cuộc tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thời trung đại”, Tạp chí Hán Nôm 6(85), 2007: https://hannom.vass.gov.vn/nghien-cuu-van-ban/mot-so-cuoc-tiep-xuc-giua-su-than-viet-nam-va-su-than-han-quoc-thoi-trung-dai-tap-chi-han-nom-so-6--506179 ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thư mục Phùng Khắc Khoan thi: https://hannom.vass.gov.vn/?cid=61495&pageid=46955&sachid=6270 ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu thơ văn xướng họa Phùng Khắc Khoan–Lý Túy Quang: https://hannom.vass.gov.vn/tong-muc-luc/14-tho-van-xuong-hoa-cua-cac-tac-gia-su-gia-viet-nam-han-quoc-nhung-thanh-tuu-nghien-cuu-ve-van-ban-506602 ; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, văn bia Cổ Pháp do Phùng Khắc Khoan soạn năm 1604: https://hannom.vass.gov.vn/tong-muc-luc/61-hoang-giap-phung-khac-khoan-voi-bai-van-bia-o-dien-co-phap-dinh-bang-tu-son-bac-ninh-tbhnh-2009-506555 ; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Phùng Khắc Khoan – Trạng được dân phong”: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/6180/phung-khac-khoan-trang-djuoc-dan-phong.html ; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí; Đại Việt sử ký toàn thư, phần Lê Trung hưng; Trần Lê Sáng, Phùng Khắc Khoan – cuộc đời và sự nghiệp, NXB Hà Nội, 1995.
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1530–1540

Nam - Bắc triều

Thời Mạc Thái Tông

Con trưởng của Mạc Đăng Dung. Năm 1530, vua Mạc Thái Tổ nhường ngôi cho con, lui về Cổ Trai. Thái tử Mạc Đăng Doanh lên nối ngôi, hiệu là Mạc Thái Tông.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5.1. Mạc
Người trị vì
Mạc Thái Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1533–1548

Nam - Bắc triều

Thời vua Lê Trang Tông

Người khôi phục nhà Lê Trung hưng; Hoàng tử nhà Lê; con của Lê Chiêu Tông; được Nguyễn Kim tìm thấy ở Ai Lao và tôn lên làm vua năm 1533

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Trang Tông
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1533

Nam - Bắc triều

Lê Trang Tông được tôn lập - hình thành Nam triều

Nguyễn Kim tìm được hậu duệ nhà Lê và lập Lê Trang Tông, mở đầu Lê Trung Hưng. Từ đây hình thành thế đối đầu giữa Bắc triều Mạc và Nam triều Lê.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Trang Tông / Mạc Đăng Dung
Niên hiệu
Nguyên Hòa / Minh Đức
Loại sự kiện
Chính trị
Địa điểm
Ai Lao - Thanh Hóa
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1539–1540

Nam - Bắc triều

Nam triều mở rộng căn cứ ở Thanh Hóa - Nghệ An

Nguyễn Kim và lực lượng Nam triều từng bước xây dựng căn cứ và mở rộng kiểm soát về phía Bắc, tạo thế đối đầu lâu dài với nhà Mạc.

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5. Lê sơ
Người trị vì
Lê Trang Tông / Mạc Đăng Doanh
Niên hiệu
Nguyên Hòa
Loại sự kiện
Quân sự
Địa điểm
Thanh Hóa - Nghệ An
Nguồn
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

1541–1546

Nam - Bắc triều

Thời Mạc Phúc Hải

Con trai trưởng của Mạc Đăng Doanh

Thông tin & nguồn
Giai đoạn
Nam - Bắc triều
Vương triều
5.1. Mạc
Người trị vì
Mạc Phúc Hải
Tên nước
Đại Việt
Loại sự kiện
Quản lý nhà nước
Trạng thái
Chưa đánh dấu kiểm chứng trong dữ liệu nguồn

Dữ liệu từ bảng công khai của Lazi Voyage; được lưu cùng website để tra cứu ổn định.